Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Sợ Tầu Là Bệnh Hay Lây



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 150909

Hoa Kỳ Sợ Tầu Quá Mạnh Rồi Quá Yếu

* Ngai trống vàng son lợt sắc rồi *



Quãng ba chục năm trước, nước Mỹ xôn xao vì sức mạnh kinh tế Nhật Bản, đến nỗi trong xã hội đã nổi lên phong trào “Bài Nhật”. Ngày nay, người ta đang thấy tái diễn một phản ứng tương tự, là bệnh “Sợ Tầu”.

Vào đầu thập niên 1980, người Mỹ thấy kinh tế Nhật phát triển quá mạnh, tư bản Nhật tràn ngập Đông Á đã ào ạo chảy vào Hoa Kỳ như thác lũ. Giá nhà đất của một quận của thủ đô Tokyo cỏn cao hơn giá đất của cả tiểu bang California. Xe hơi Nhật chạy như mắc cửi trên xa lộ Mỹ, với ưu điểm đẹp rẻ bền lại ít tốn xăng. Doanh nghiệp Nhật mua các phim trường, bất động sản và cả biểu tượng văn hóa Hoa Kỳ là Rockefeller Center ở New York. Người ta bình luận về sức mạnh Nhật Bản, viết truyện và dựng phim về âm mưu mờ ám của tư bản Nhật. Đây đó có người treo xe Nhật lên rồi lấy búa nện cho tan tành….

Sau đó là lịch sử: kinh tế Nhật bị khủng hoảng từ năm 1991, đến tuần qua mới có vài chỉ dấu tạm gọi là khả quan mà không bền. Ở giữa là sáu đợt suy trầm mà chưa chắc là “ba mũi tên cải cách” của Chính quyền Shinzo Abe đã có thể đảo ngược nổi. Nhưng dư luận Hoa Kỳ đã hướng nỗi lo qua chuyện khác rồi. 

Nói tắt về bối cảnh thì sau gần chục năm lo sợ kinh tế Trung Quốc sẽ bắt kịp Hoa Kỳ khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 và kinh tế của Tầu vượt Nhật năm 2010, ngày nay dư luận Mỹ lại sợ nạn trời xập bên Tầu sẽ văng miểng vào kinh tế Mỹ. Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu về cái bệnh Sợ Tầu này.


Trung Quốc Cất Cánh


Từ 15 năm nay, sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với sự đồng ý của Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu giật mình vì sự xuất hiện của một cường quốc kinh tế mới. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Âu thành hình năm 1992 và khối Euro ra đời vào năm 2000, thiên hạ mới chú ý đến nền kinh tế Hoa lục có một tỷ 300 triệu dân, theo kinh tế thị trường từ năm 1980 và có đà tăng trưởng cao. Sau khi là thành viên WTO, nền kinh tế đó hội nhập vào luồng giao dịch toàn cầu với mũi nhọn là xuất cảng các mặt hàng chế biến với giá rất rẻ và thu về một kho ngoại tệ vĩ đại. 

Sự thật là sau 30 năm hoang tưởng của Mao Trạch Đông từ 1949 đến 1978 làm mấy chục triệu dân thác oan, Đặng Tiểu Bình mới tiến hành kế hoạch “cải cách và khai phóng kinh tế” từ đầu năm 1979. Khi ấy, Bắc Kinh áp dụng chiến lược phát triển của các xứ Đông Á đã theo kinh tế thị trường từ trước, như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan và Singapore. Nhưng khác với các mẫu mực Đông Á là lấy tiêu thụ làm sức mạnh, chiến lược Trung Quốc lấy đầu tư làm lực đẩy cho sản xuất và sản xuất nhiều và rẻ thì tìm sức kéo ở xuất cảng.  

Trung Quốc không phát minh ra chiến lược ấy nhưng có ưu thế là dân số cao, nhân công nhiều và rẻ được giải phóng khỏi chế độ tập trung kế hoạch nên đạt mức tăng trưởng trung bình là gần 10% trong ba chục năm. Với sức tăng trưởng đó thì mỗi bảy năm sức nặng kinh tế của xứ này lại nhân đôi, làm nhiều người Mỹ gọi là sự kỳ diệu và báo hiệu một “Thế kỷ 21 của Trung Quốc”.

Họ không thấy trào lưu tương tự ở các nước Đông Á đi trước, khi ấy được ca tụng là “tân hưng”, với phẩm chất tăng trưởng cao chứ không tệ hại như Trung Quốc. Sau đó các nước này còn chuyển lượng thành phẩm và thoát khỏi hiện tượng “bẫp xập của lợi tức trung bình” để tăng trưởng thấp hơn nhưng người dân có mức sống cao bằng khối công nghiệp hóa tiên tiến trong thể chế dân chủ.

Cụ thể thì theo một công trình nghiên cứu vào Tháng Năm vừa qua của Ngân hàng Dự trữ Hoa Kỳ tại khu vực Minneapolis, lợi tức trung bình một đầu người của Trung Quốc đã từ 1.300 đô la vào năm 1980 tăng đến 7.700 đô la vào năm 2010: tăng 500% trong 30 năm (năm 2010 đó là khi sản lượng kinh tế Tầu vừa vượt Nhật Bản). Nếu chỉ nhìn vào Trung Quốc thì đấy là sự kỳ diệu. Nhưng ngày nay dân Nhật, Nam Hàn hay Đài Loan lại giàu gấp bội, với lợi tức đồng niên cho một người là hơn 36.000, hơn 28.000 hay hơn 22.000. Đó là nhìn vào không gian.

Nhìn theo trục thời gian thì có một trào lưu chung là sau thời tăng trưởng cao như khi một phi cơ mới cất cánh, các nước đó bước vào thời kỳ bay ngang, hay “bằng phi”, với đà tăng trưởng thấp hơn. Nhật cất cánh từ 1951 và Nam Hàn từ 1954 và sản lượng một đầu người tăng mạnh trong mấy thập niên đầu rồi chậm dần. Của dân Nhật thì khởi đầu là 6,1% một năm rồi 5,4% vào thập niên 1970, rồi chỉ còn 2,2% từ thập niên 90. Nam Hàn cũng thế, sản lượng một đầu người tăng 8,5% một năm trong thập niên 80, rồi 5,8% trong 10 năm kế, và từ quãng 2000 về sau thì chỉ còn 3,8%. Trường hợp Trung Quốc cũng không khác và họ đang bước vào thời trì trệ, nhưng với lợi tức trung bình một năm vẫn ở dưới 10 vạn đồng và lạc quan lắm thì năm 2030 sẽ bằng 32,8% của dân Mỹ hoặc quãng 2061 thì mới bằng được phân nửa của dân Mỹ.


Phi Cơ Hạ Cánh Vào Thời Đình Trệ 


Sau khi Trung Quốc cải cách kinh tế thì thế giới ngợi ca việc đổi mới là có ý nghĩa lịch sử.

Nếu so với nhiều quốc gia đã theo quy luật của thị trường cho tự do hơn, như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan hay Ấn Độ sau này, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc chẳng là phép lạ. Nó còn được thổi phồng như cơ quan nghiên cứu độc lập của Mỹ là Conference Board vừa lượng định lại sau nhiều năm khảo sát công phu. Một cách cụ thể thì trong 25 năm, đà tăng trưởng thực của Trung Quốc thấp hơn số chính thức đến hơn một phần tư, là tăng quãng 7,5% một năm thôi, cho nên thật ra kinh tế của xứ này chưa có sức nặng như người ta nghĩ.

Đi vào chi tiết thì trong 35 năm sau khi Đặng Tiểu Bình mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã qua ba giai đoạn cất cánh tuần tự.

Trước hết về phẩm thì họ giải tỏa cho dân được làm ăn cho nên từ cái đáy của sự bần cùng nên kinh tế dễ bật dậy. Về lượng là nhà nước chủ động dùng đầu tư làm lực đẩy, đến khi đụng vào giới hạn của cơ chế kinh tế từ bảy tám năm trước thì yêu cầu cải cách được đặt ra. Nhưng năm 2008, thế giới lại bị Tổng suy trầm và Bắc Kinh sợ suy thoái nên hoãn cải tổ mà ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Khi đó, tư bản ứ đọng từ khối Âu-Mỹ-Nhật bị đình trệ chảy về Châu Á để tìm mức lời cao hơn. Nhờ vậy mà khi thế giới bị trì trệ thì Trung Quốc vượt lên và qua mặt Nhật Bản từ năm 2010, đấy là giai đoạn thứ ba.

Nhưng cũng do đó mà Trung Quốc tích lũy thêm yếu tố bất ổn và đang gây mối sợ khủng hoảng cho Hoa Kỳ.

Vắn tắt thì cái nhân khủng hoảng bên trong đã có, cái duyên ngày nay khi khối công nghiệp hóa, trước hết là Mỹ, muốn tăng xuất cảng, giảm mức bơm tiền, hút lại lượng tiền đã bơm ra và sẽ nâng lãi suất. Khi ấy, kinh tế Trung Quốc bị rủi ro lớn, là điều có thể xảy ra từ năm tới.

Thật ra từ Tháng Ba năm 2007, Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo nêu ra bốn nhược điểm kinh tế là "không ổn định, không cân đối, không phối hợp và không bền vững". Đáng lẽ ông phải nêu thêm một cái không nữa là không công bằng. Ba năm sau, Tháng Sáu năm 2010, người lên làm Thủ tướng ngày nay là Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường cũng viết trên tạp chí "Cầu Thị", cơ quan lý luận của Trung ương đảng và của Trường đảng, rằng công cuộc phát triển của họ "tạo ra một cơ cấu kinh tế phi lý" và "ngày càng thấy rõ chiều hướng thiếu phối hợp và không vững bền". Khi ấy các lãnh tụ khác như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm và Tổng bí thư Tập Cận Bình sẽ lên thay cũng đều phát biểu như vậy.

Nghĩa là lãnh đạo xứ này thấy ra vấn đề từ đã lâu mà không cải cách được cho tới ngày hạ cánh.


Hạ Cánh Bấp Bênh


Y hệt như về Nhật Bản ba chục năm trước, nhiều người không thấy ra các vấn đề của Trung Quốc.

Nền kinh tế này nén tiêu thụ để lấy đầu tư làm lực đẩy mà đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước kém năng suất lại là chính, cho nên mới gây lãng phí. Số đầu tư ấy lấy tiết kiệm rất cao của dân mà đền bù rất rẻ nên gây ra bất công. Nhờ sản xuất ồ ạt bằng mọi giá, Trung Quốc có thể xuất cảng rẻ, là công xưởng cho thế giới, và giúp nhà nước độc quyền thu về một lượng ngoại tệ kỷ lục có lúc lên tới bốn ngàn tỷ đô la làm dân Mỹ hãi sợ vì trong đó có hơn ngàn tỷ là cho Mỹ vay. Bất trắc lớn là trong cơ chế ấy, các đảng viên cán bộ cao cấp của khu vực nhà nước và ở địa phương thì làm giàu dễ nên ủng hộ chiến lược cũ và cản trở việc cải sửa với lý do là sợ giảm đà tăng trưởng.

Thế rồi vì đà tăng trưởng nhờ đầu tư mạnh bắt đầu giảm và kinh tế toàn cầu bị suy trầm nên hãm đà tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc cho nên kể từ năm 2008, lãnh đạo ồ ạt bơm tiền kích thích sản xuất. Tín dụng quá rẻ, lại dồn vào thành phần kinh tế nhà nước và đảng bộ địa phương nên thổi lên bong bóng đầu cơ trong tình trạng nợ quá sức trả. Trong khi đó, tư doanh mới là lực lượng tạo ra việc làm nhờ tiểu doanh thương thì không dễ vay tiền từ hệ thống chính thức, họ phải vay gián tiếp qua thị trường chui, hay tín dụng ngoại ngạch, shadow banking, với lãi suất cắt cổ và chỉ có thể hoàn trả nếu đầu cơ theo lối chụp giựt đầy rủi ro. Hậu quả là kể từ 2008, kết số nợ của các cấp nhà nước công và tư nhân đã tăng hơn sản lượng cả năm, bên trong có nhiều khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Mà xấu đến cỡ nào thì không ai đoán biết được.

Vì vậy, ngày nay, Hoa Kỳ cũng lại Sợ Tầu. Nhưng là nỗi sợ ngược: Sợ kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề, hoặc hạ cánh tan tành rồi sẽ bị khủng hoảng tài chánh vì gánh nợ.

___

Kết luận ở đây là gì?

Nền kinh tế đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ là Nhật Bản đã bị khủng hoảng từ năm 1991 mà kinh tế Hoa Kỳ không bị ảnh hưởng nặng. Ngày nay, nếu mà nền kinh tế hạng nhì là Trung Quốc có bị khủng hoảng thì hậu quả kinh tế cũng chẳng đáng ngại. 

Nhưng hậu quả chính trị lại khác, vì Nhật Bản là đồng minh của Mỹ mà Trung Quốc thì không. 

Đấy mới là chuyện đáng lo và đáng theo dõi khi Mỹ-Hoa có thượng đỉnh vào cuối Tháng Chín này.


Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Nhật-Hoa Tái Ngộ


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 150724

Sự Sợ Hãi Của Ngươi Mới Làm Ta Hãi Sợ

* Lần trước gặp nhau: nước Tầu lỗ mũi ăn trầu, đầu như lục tầu xá *



Ngày xưa, có một quốc gia thiếu tài nguyên đã sớm bước vào tiến trình kỹ nghệ hóa rồi phát giác rằng mình càng thiếu tài nguyên. Tài nguyên đó là nguyên nhiên vật liệu và sức lao động. Quốc gia đó là Nhật Bản, sau cuộc canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng.

Là một quốc gia quần đảo, Nhật giải quyết nạn thiếu thốn ấy bằng chinh phục: tìm nguồn cung cấp ở nơi khác và dùng nhân công xứ khác giải quyết việc sản xuất cho mình. Càng tiến nhanh trong bước công nghiệp hóa, Nhật Bản càng phải bảo vệ nguồn cung cấp tài nguyên và nhân lực. Một cách khái quát, đấy là những nguyên nhân chính khiến Nhật Bản trở thành cường quốc hung hăng đã chiến thắng hai đại cường lân bang tại Á Châu, là Trung Quốc và Đế quốc Nga, trong các trận hải chiến lừng danh cuối thế kỷ 19 (1895) và đầu thế kỷ 20 (1905). Sau đó, Nhật còn dữ dội hơn vậy, chiếm đóng bán đảo Triều Tiên năm 1910 và một phần lãnh thổ Trung Quốc năm 1937.

Từ hướng Đông của biển Thái Bình, một cường quốc khác theo dõi động thái này và tìm cách giới hạn sự bành trướng của Nhật để bảo vệ các tiểu bang miền Tây của mình. Đó là Hoa Kỳ.

Khi Nhật hất cẳng các nước Âu Châu tại vùng thuộc địa ở Đông Nam Á và uy hiếp đất bảo hộ của Mỹ trên Thái Bình Dương là Philippines thì Hoa Kỳ quyết định phong tỏa kinh tế Nhật và chặn mất 80% nguồn năng lượng cho các hãng xưởng Nhật Bản. Vì vậy, đáng lẽ Hoa Kỳ chẳng nên ngạc nhiên về phản ứng của Nhật, là vụ tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) của quần đảo Hawaii ngày bảy Tháng 12 năm 1941.

Ngay hôm sau, Hoa Kỳ khai chiến và tham gia Thế chiến II, thật ra khởi sự trước đó khá lâu tại Âu Châu.

Sau một cuộc chiến dai dẳng và tốn kém trên biển Thái Bình, Hoa Kỳ khuất phục được Nhật Bản, cách nay đúng 70 năm, bằng hai quả bom nguyên tử. Điều kỳ lạ là khi nước Nhật bại trận phải đầu hàng, toàn bộ hệ thống kỹ nghệ bị tan tành mà người dân vẫn cam chịu và gìn giữ sự ổn định của một xã hội thuần chủng. Nhật bị giải giới, chấp nhận một Hiến pháp phi quân sự do Hoa Kỳ soạn thảo, vài chục năm sau trở thành một đồng minh phú cường của Hoa Kỳ, theo chế độ dân chủ. Từ đó, Nhật giải quyết nhu cầu kinh tế - nguyên nhiên vật liệu và nhân công – theo hướng tự do và hòa bình, qua ngoại thương và đầu tư, dưới cái dù bảo vệ của Hoa Kỳ.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, cường quốc kinh tế này ở vào phe chiến thắng nhưng bắt đầu bị khủng hoảng. Nạn bể bóng đầu tư dẫn tới suy trầm và cơ chế chính trị sơ cứng cản trở việc cải cách nên trong hơn 20 năm, Nhật Bản vẫn chưa ra khỏi khó khăn.

***

Đó là chuyện ngày nay, khi mà tuần qua, Thủ tướng Shinzo Abe tung ra “mũi tên thứ ba” của công cuộc cải cách sau hai mũi tên tiền tệ và ngân sách, nhằm phá vỡ các thế lực cản trở, nhất là trong khu vực năng lượng, lao động và canh nông. Nhưng bài toán của Nhật không chỉ có vậy.

Vì khi Nhật Bản bắt đầu suy trầm, bên kia biển Hoàng Hải, một cường quốc đã xuất hiện và đi theo con đường bành trướng của Nhật trăm năm về trước. Đấy là Trung Quốc.

Sau 100 năm lụn bại kể từ 1842, trong Thế chiến II, Trung Quốc là nạn nhân của Nhật, lãnh thổ là trận địa của chiến tranh chống Nhật và nội chiến Quốc-Cộng. Sau khi đảng Cộng sản chiến thắng năm 1949, trong 30 năm, Trung Quốc là nạn nhân của Mao Trạch Đông cho đến khi Mao tạ thế năm 1976 và Đặng Tiểu Bình cải cách năm 1979. Từ đó Trung Quốc nghĩ đến việc phục hưng và cũng áp dụng bài học canh tân và công nghiệp hóa của Nhật và của các nước Đông Á khác.

Ngày nay, vào thế kỷ 21, lãnh đạo xứ này cũng phát giác “sự thật Nhật Bản” đã thấy từ thế kỷ 19: đói ăn, khát dầu, thiếu nước và cần nguyên nhiên vật liệu cùng các thị trường xuất cảng.

Nhưng thay vì giải quyết như Nhật Bản sau Thế chiến II, một cách hòa bình theo quy luật thị trường, lãnh đạo Trung Quốc nghĩ đến giải pháp bành trướng và phòng thủ một cách tích cực hơn. Chiếm đóng để bảo vệ. Bắc Kinh mở rộng kiểm soát vùng biển cận duyên bao trùm lên một chuỗi quốc gia bán đảo hay hải đảo, gọi là “Đệ nhất Đảo liên” ngoài Đông hải, và còn nghĩ đến vùng biển viễn duyên, Thái Bình Dương, là chuỗi “Đệ nhị Đảo liên” kéo đến tận căn cứ Guam và quần đảo Hawai của Hoa Kỳ.

Rút kinh nghiệm tốn kém của chiến tranh quá xa lãnh thổ thời Đệ nhị Thế chiến trên Thái Bình Dương và hai cuộc chiến Á Châu trên bán đảo Triều Tiên và tại Việt Nam, Hoa Kỳ muốn tránh đụng trận với Trung Quốc. Mỹ chủ trương bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển và không can dự vào vấn đề chủ quyền ở các quần đảo thuộc vòng “Đệ nhất Đảo liên” hay cái “Lưỡi Bò 10 Khúc” của Bắc Kinh.

Nhật Bản không có hoàn cảnh địa dư đó.

Vì vậy, song song cùng việc cải cách kinh tế xã hội bên trong, từ nhiều năm nay, Chính quyền Shinzo Abe vận động việc cải tổ Hiến pháp và luật lệ để Nhật Bản sẽ có khả năng quân sự bảo vệ quyền lợi của mình – lẫn các đồng minh. Hôm 21 vừa qua, cùng “mũi tên thứ ba” về kinh tế của Abe, Bộ Quốc phòng Nhật Bản công bố Bạch thư “Phòng vệ Nhật Bản 2015”.

Tài liệu này được hoãn một tuần theo yêu cầu của đảng cầm quyền Tự do Dân chủ LDP của ông Abe, để bổ sung phần nhận định về mối nguy từ Trung Quốc. Văn kiện vừa xuất hiện là gây phản ứng gay gắt từ phía Bắc Kinh. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại giao Bắc Kinh kết án việc Nhật Bản đe dọa chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo có tranh chấp và yêu cầu Tokyo chấm dứt “những trò nguy hiểm”.

Cả phần bối cảnh rất dài ở trên chỉ dễ dẫn tới động thái Bắc Kinh, mâu thuẫn Hoa-Nhật, và lập trường của Mỹ.

***

Nhật Bản là một nước không có tài nguyên, lãnh thổ là một quần đảo có bốn đảo lớn nằm giữa đại dương. Khi hữu sự, dân Nhật chỉ có một đất lùi là trôi xuống biển.

Trung Quốc là một đại cường lục địa ngày nay bị lệ thuộc vào thế giới bên ngoài như chưa từng bị trong mấy ngàn năm lịch sử. Vì vậy, thế hệ lãnh đạo mới là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường – “Thế hệ Tập-Lý” – mới vạch ra “Con Đường Tơ Lụa của Thế kỳ 21”. Chiến lược bành trướng và củng cố này gồm có “Nhất Đới” là các đường lộ vận trên đất liền để qua Trung Á, Trung Đông là vào tới Âu Châu; phần kia là “Nhất Lộ”, đường vận chuyển trên biển nối liền các thương cảng và quân cảng Trung Quốc trên vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam của họ với các dòng hải lưu trên vùng biển Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương rồi Địa Trung Hải. Bạch thư Quốc phòng của Bắc Kinh được công bố hôm 26 Tháng Năm đã khẳng định quyền bảo vệ quân sự của Trung Quốc trên các ngả giao lưu đó. “Hạch tâm nghĩa lợi” hay quyền lợi cốt lõi là đấy.

Hóa ra, vì sợ bị thiên hạ phong tỏa những đường yết hầu ngoài biển cận duyên, Bắc Kinh bèn “tiên hạ thủ” là mở rộng vùng định vị phòng không ADIZ rồi chiếm đóng và củng cố các quần đảo đang có tranh chấp chủ quyền với các lân bang để làm căn cứ quân sự trong một vùng trái độn họ đòi kiểm soát.

Trong khung cảnh đó, mâu thuẫn và xung đột với Nhật là điều dễ xảy ra.

Theo phép suy bụng ta ra bụng người, Bắc Kinh không tin rằng Hoa Kỳ sẽ ra tay bảo vệ quyền lợi và nhân sự của Trung Quốc khi họ gặp nạn ở bên ngoài và lại còn có khả năng khống chế các eo biển thông thương tại vùng biển Đông Nam Á để phong tỏa kinh tế Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng cho rằng Hoa Kỳ chỉ muốn duy trì nguyên trạng tự do lưu thông trong khu vực chứ không muốn trực tiếp khai chiến với mình. Chỉ cần nêu ra những rủi ro và tổn thất về phía Hoa Kỳ thì Bắc Kinh cũng tránh được một trận Mỹ-Hoa chinh chiến.

Và hình như Hoa Kỳ của Barack Obama ứng xử như vậy thật. Việc Mỹ tái phối trí phương tiện quân sự qua biển Thái Bình như Tổng trưởng Quốc phòng thời ấy là Lenon Panetta thông báo từ năm 2012 vẫn chưa tiến hành.

Nhưng Nhật Bản lại khác. Chính quyền Shinzo Abe nói và làm với những phương tiện quân sự hiện đại hơn Trung Quốc, và Tokyo còn ra sức phổ biến võ khí phòng thủ cho các nước trong vùng. Nỗi sợ hãi là con đường hai chiều và sự sợ hãi của ngươi lại làm ta hãi sợ!

Hai cường quốc Á Châu có cùng một nỗi lo vì có cùng loại vấn đề. Và đấy là mới mối nguy tại Đông Á.