Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa-Nhật tranh hùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa-Nhật tranh hùng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Nhật-Hoa Tái Ngộ


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 150724

Sự Sợ Hãi Của Ngươi Mới Làm Ta Hãi Sợ

* Lần trước gặp nhau: nước Tầu lỗ mũi ăn trầu, đầu như lục tầu xá *



Ngày xưa, có một quốc gia thiếu tài nguyên đã sớm bước vào tiến trình kỹ nghệ hóa rồi phát giác rằng mình càng thiếu tài nguyên. Tài nguyên đó là nguyên nhiên vật liệu và sức lao động. Quốc gia đó là Nhật Bản, sau cuộc canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng.

Là một quốc gia quần đảo, Nhật giải quyết nạn thiếu thốn ấy bằng chinh phục: tìm nguồn cung cấp ở nơi khác và dùng nhân công xứ khác giải quyết việc sản xuất cho mình. Càng tiến nhanh trong bước công nghiệp hóa, Nhật Bản càng phải bảo vệ nguồn cung cấp tài nguyên và nhân lực. Một cách khái quát, đấy là những nguyên nhân chính khiến Nhật Bản trở thành cường quốc hung hăng đã chiến thắng hai đại cường lân bang tại Á Châu, là Trung Quốc và Đế quốc Nga, trong các trận hải chiến lừng danh cuối thế kỷ 19 (1895) và đầu thế kỷ 20 (1905). Sau đó, Nhật còn dữ dội hơn vậy, chiếm đóng bán đảo Triều Tiên năm 1910 và một phần lãnh thổ Trung Quốc năm 1937.

Từ hướng Đông của biển Thái Bình, một cường quốc khác theo dõi động thái này và tìm cách giới hạn sự bành trướng của Nhật để bảo vệ các tiểu bang miền Tây của mình. Đó là Hoa Kỳ.

Khi Nhật hất cẳng các nước Âu Châu tại vùng thuộc địa ở Đông Nam Á và uy hiếp đất bảo hộ của Mỹ trên Thái Bình Dương là Philippines thì Hoa Kỳ quyết định phong tỏa kinh tế Nhật và chặn mất 80% nguồn năng lượng cho các hãng xưởng Nhật Bản. Vì vậy, đáng lẽ Hoa Kỳ chẳng nên ngạc nhiên về phản ứng của Nhật, là vụ tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) của quần đảo Hawaii ngày bảy Tháng 12 năm 1941.

Ngay hôm sau, Hoa Kỳ khai chiến và tham gia Thế chiến II, thật ra khởi sự trước đó khá lâu tại Âu Châu.

Sau một cuộc chiến dai dẳng và tốn kém trên biển Thái Bình, Hoa Kỳ khuất phục được Nhật Bản, cách nay đúng 70 năm, bằng hai quả bom nguyên tử. Điều kỳ lạ là khi nước Nhật bại trận phải đầu hàng, toàn bộ hệ thống kỹ nghệ bị tan tành mà người dân vẫn cam chịu và gìn giữ sự ổn định của một xã hội thuần chủng. Nhật bị giải giới, chấp nhận một Hiến pháp phi quân sự do Hoa Kỳ soạn thảo, vài chục năm sau trở thành một đồng minh phú cường của Hoa Kỳ, theo chế độ dân chủ. Từ đó, Nhật giải quyết nhu cầu kinh tế - nguyên nhiên vật liệu và nhân công – theo hướng tự do và hòa bình, qua ngoại thương và đầu tư, dưới cái dù bảo vệ của Hoa Kỳ.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, cường quốc kinh tế này ở vào phe chiến thắng nhưng bắt đầu bị khủng hoảng. Nạn bể bóng đầu tư dẫn tới suy trầm và cơ chế chính trị sơ cứng cản trở việc cải cách nên trong hơn 20 năm, Nhật Bản vẫn chưa ra khỏi khó khăn.

***

Đó là chuyện ngày nay, khi mà tuần qua, Thủ tướng Shinzo Abe tung ra “mũi tên thứ ba” của công cuộc cải cách sau hai mũi tên tiền tệ và ngân sách, nhằm phá vỡ các thế lực cản trở, nhất là trong khu vực năng lượng, lao động và canh nông. Nhưng bài toán của Nhật không chỉ có vậy.

Vì khi Nhật Bản bắt đầu suy trầm, bên kia biển Hoàng Hải, một cường quốc đã xuất hiện và đi theo con đường bành trướng của Nhật trăm năm về trước. Đấy là Trung Quốc.

Sau 100 năm lụn bại kể từ 1842, trong Thế chiến II, Trung Quốc là nạn nhân của Nhật, lãnh thổ là trận địa của chiến tranh chống Nhật và nội chiến Quốc-Cộng. Sau khi đảng Cộng sản chiến thắng năm 1949, trong 30 năm, Trung Quốc là nạn nhân của Mao Trạch Đông cho đến khi Mao tạ thế năm 1976 và Đặng Tiểu Bình cải cách năm 1979. Từ đó Trung Quốc nghĩ đến việc phục hưng và cũng áp dụng bài học canh tân và công nghiệp hóa của Nhật và của các nước Đông Á khác.

Ngày nay, vào thế kỷ 21, lãnh đạo xứ này cũng phát giác “sự thật Nhật Bản” đã thấy từ thế kỷ 19: đói ăn, khát dầu, thiếu nước và cần nguyên nhiên vật liệu cùng các thị trường xuất cảng.

Nhưng thay vì giải quyết như Nhật Bản sau Thế chiến II, một cách hòa bình theo quy luật thị trường, lãnh đạo Trung Quốc nghĩ đến giải pháp bành trướng và phòng thủ một cách tích cực hơn. Chiếm đóng để bảo vệ. Bắc Kinh mở rộng kiểm soát vùng biển cận duyên bao trùm lên một chuỗi quốc gia bán đảo hay hải đảo, gọi là “Đệ nhất Đảo liên” ngoài Đông hải, và còn nghĩ đến vùng biển viễn duyên, Thái Bình Dương, là chuỗi “Đệ nhị Đảo liên” kéo đến tận căn cứ Guam và quần đảo Hawai của Hoa Kỳ.

Rút kinh nghiệm tốn kém của chiến tranh quá xa lãnh thổ thời Đệ nhị Thế chiến trên Thái Bình Dương và hai cuộc chiến Á Châu trên bán đảo Triều Tiên và tại Việt Nam, Hoa Kỳ muốn tránh đụng trận với Trung Quốc. Mỹ chủ trương bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển và không can dự vào vấn đề chủ quyền ở các quần đảo thuộc vòng “Đệ nhất Đảo liên” hay cái “Lưỡi Bò 10 Khúc” của Bắc Kinh.

Nhật Bản không có hoàn cảnh địa dư đó.

Vì vậy, song song cùng việc cải cách kinh tế xã hội bên trong, từ nhiều năm nay, Chính quyền Shinzo Abe vận động việc cải tổ Hiến pháp và luật lệ để Nhật Bản sẽ có khả năng quân sự bảo vệ quyền lợi của mình – lẫn các đồng minh. Hôm 21 vừa qua, cùng “mũi tên thứ ba” về kinh tế của Abe, Bộ Quốc phòng Nhật Bản công bố Bạch thư “Phòng vệ Nhật Bản 2015”.

Tài liệu này được hoãn một tuần theo yêu cầu của đảng cầm quyền Tự do Dân chủ LDP của ông Abe, để bổ sung phần nhận định về mối nguy từ Trung Quốc. Văn kiện vừa xuất hiện là gây phản ứng gay gắt từ phía Bắc Kinh. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại giao Bắc Kinh kết án việc Nhật Bản đe dọa chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo có tranh chấp và yêu cầu Tokyo chấm dứt “những trò nguy hiểm”.

Cả phần bối cảnh rất dài ở trên chỉ dễ dẫn tới động thái Bắc Kinh, mâu thuẫn Hoa-Nhật, và lập trường của Mỹ.

***

Nhật Bản là một nước không có tài nguyên, lãnh thổ là một quần đảo có bốn đảo lớn nằm giữa đại dương. Khi hữu sự, dân Nhật chỉ có một đất lùi là trôi xuống biển.

Trung Quốc là một đại cường lục địa ngày nay bị lệ thuộc vào thế giới bên ngoài như chưa từng bị trong mấy ngàn năm lịch sử. Vì vậy, thế hệ lãnh đạo mới là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường – “Thế hệ Tập-Lý” – mới vạch ra “Con Đường Tơ Lụa của Thế kỳ 21”. Chiến lược bành trướng và củng cố này gồm có “Nhất Đới” là các đường lộ vận trên đất liền để qua Trung Á, Trung Đông là vào tới Âu Châu; phần kia là “Nhất Lộ”, đường vận chuyển trên biển nối liền các thương cảng và quân cảng Trung Quốc trên vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam của họ với các dòng hải lưu trên vùng biển Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương rồi Địa Trung Hải. Bạch thư Quốc phòng của Bắc Kinh được công bố hôm 26 Tháng Năm đã khẳng định quyền bảo vệ quân sự của Trung Quốc trên các ngả giao lưu đó. “Hạch tâm nghĩa lợi” hay quyền lợi cốt lõi là đấy.

Hóa ra, vì sợ bị thiên hạ phong tỏa những đường yết hầu ngoài biển cận duyên, Bắc Kinh bèn “tiên hạ thủ” là mở rộng vùng định vị phòng không ADIZ rồi chiếm đóng và củng cố các quần đảo đang có tranh chấp chủ quyền với các lân bang để làm căn cứ quân sự trong một vùng trái độn họ đòi kiểm soát.

Trong khung cảnh đó, mâu thuẫn và xung đột với Nhật là điều dễ xảy ra.

Theo phép suy bụng ta ra bụng người, Bắc Kinh không tin rằng Hoa Kỳ sẽ ra tay bảo vệ quyền lợi và nhân sự của Trung Quốc khi họ gặp nạn ở bên ngoài và lại còn có khả năng khống chế các eo biển thông thương tại vùng biển Đông Nam Á để phong tỏa kinh tế Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng cho rằng Hoa Kỳ chỉ muốn duy trì nguyên trạng tự do lưu thông trong khu vực chứ không muốn trực tiếp khai chiến với mình. Chỉ cần nêu ra những rủi ro và tổn thất về phía Hoa Kỳ thì Bắc Kinh cũng tránh được một trận Mỹ-Hoa chinh chiến.

Và hình như Hoa Kỳ của Barack Obama ứng xử như vậy thật. Việc Mỹ tái phối trí phương tiện quân sự qua biển Thái Bình như Tổng trưởng Quốc phòng thời ấy là Lenon Panetta thông báo từ năm 2012 vẫn chưa tiến hành.

Nhưng Nhật Bản lại khác. Chính quyền Shinzo Abe nói và làm với những phương tiện quân sự hiện đại hơn Trung Quốc, và Tokyo còn ra sức phổ biến võ khí phòng thủ cho các nước trong vùng. Nỗi sợ hãi là con đường hai chiều và sự sợ hãi của ngươi lại làm ta hãi sợ!

Hai cường quốc Á Châu có cùng một nỗi lo vì có cùng loại vấn đề. Và đấy là mới mối nguy tại Đông Á.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Trung Quốc Mạnh Hay Yếu?

Hải Ninh x& Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150610
"Diễn đàn Kinh tế"

Chưa hùng mà đã hung, có khi bị hội chứng Vương An Thạch!


Một vài du khách Trung Quốc đứng dọc theo lối đi dạo trên Bến Thượng Hải nhìn ra sông Hoàng Phố nhìn sang khu Phố Đông ở Thượng Hải vào tháng 12 năm 2014.
* Một vài du khách Trung Quốc đứng dọc theo lối đi dạo trên Bến Thượng Hải nhìn ra sông Hoàng Phố nhìn sang khu Phố Đông ở Thượng Hải vào tháng 12 năm 2014. AFP *
 



Khi theo dõi tình hình Trung Quốc, người ta thấy một nghịch lý. Từ vài năm nay, giới kinh tế bắt đầu nói đến nỗi khó khăn của lãnh đạo kinh tế Trung Quốc sau giai đoạn tăng trưởng huy hoàng là bình quân 9% một năm trong 34 năm liên tục và nay đến lúc phải cải cách để khỏi rơi vào cái bẫy xập của một nước có lợi tức trung bình. Nhưng ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu về chiến lược thì nêu vấn đề về sức bành trướng cả thương mại lẫn quân sự của Bắc Kinh khiến các lân bang đều lo ngại. Như vậy thì Trung Quốc mạnh hay yếu? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này qua phần trao đổi của Hải Ninh với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa....


Hải Ninh: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, dường như “Con Đường Tơ Lụa Mới” và “Bạch Thư Quốc Phòng” của Bắc Kinh là hai mặt trái ngược của Trung Quốc. Một đằng là hứa hẹn hợp tác toàn cầu, từ Á Châu sang Trung Đông, Âu Châu, Phi Châu qua các dự án xây dựng hạ tầng được các ngân hàng của Bắc Kinh tài trợ. Đằng kia là hành vi bành trướng trên nhiều khu vực có tranh chấp về chủ quyền, lại được bảo vệ bằng sức mạnh quân sự chưa từng có của Trung Quốc. Thuần về kinh tế cũng vậy, giới chuyên gia nói đến khó khăn của lãnh đạo Bắc Kinh sau một giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và nay chất lên một núi nợ có thể sụp đổ, vậy mà từ vài năm nay một số học giả về chiến lược lại nói về mối nguy xuất phát từ Trung Quốc cho an ninh của nhiều nước lân bang tại Đông Á. Nếu như vậy, thưa ông, Trung Quốc mạnh hay yếu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng để có giải đáp cho câu hỏi ấy ta cần nhớ đến quy luật là mọi mô thức kinh tế đều chỉ có hy vọng dự báo chính xác nếu có sự đóng góp của bộ môn “kinh tế sử”. Thiếu tầm nhìn về lịch sử thì các phương trình kinh tế đều chỉ có giá trị hạn chế.

- Về Trung Quốc thì sau gần 200 năm loạn lạc vì ngoại xâm lẫn nội chiến, một xã hội hơn một tỷ dân đã có ba chục năm yên lành để làm ăn kể từ 1979, thì kinh tế Trung Quốc tất nhiên có một đà tăng trưởng cao chưa từng thấy. Nhiều quốc gia khác cũng từng có cơ hội tương tự mà với dân số thấp hơn nên ít được thiên hạ chú ý. Trong ba thập niên đó, vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn cách nay 26 năm vào ngày bốn Tháng Sáu năm 1989, khởi đi từ phong trào quần chúng phản đối nạn lạm phát và tham nhũng đã bị thế giới lãng quên nhưng vẫn hằn in trong tư duy của lãnh đạo xứ này. Họ rất sợ nguy cơ động loạn và dù biết là sau mấy chục năm tăng trưởng thiếu phẩm chất, họ phải cải cách để chuyển hướng qua một hình thái tăng trưởng khác nhưng vẫn rất thận trọng. Đấy là một đặc tính người ta nên nhớ khi luận bàn về sự mạnh yếu của Trung Quốc.

Khi đầu tư nhiều để nâng sản lượng cho một thị trường nội địa không được tiêu thụ như ý thì nhà nước đẩy mạnh xuất cảng và độc quyền thu về ngoại tệ nên có khối dự trữ mấp mé bốn ngàn tỷ đô la để có thể bành trướng ảnh hưởng với thiên hạ - Nguyễn-Xuân Nghĩa
Hải Ninh: Ông nêu ra vài ba vấn đề về thời gian lẫn không gian để nhắc đến mô hình kinh tế Trung Quốc trong đó yếu tố chính trị lại giữ ví trí then chốt, tại sao vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh không phát minh ra điều gì mới, nhưng họ có trí nhớ. Từ kinh nghiệm Đông Á của các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và cả Singapore, mô hình Trung Quốc có đặc tính riêng là hệ thống chính trị giữ vị trí điều tiết thị trường. Nhà nước dùng quy luật tư bản để củng cố sức mạnh của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của một đảng độc quyền.

- Thuần về kinh tế và nhờ định hướng chính trị ấy, tăng trưởng của Trung Quốc xuất phát từ hai lực đẩy là tăng đầu tư và giảm tiêu thụ. Nhà nước giữ vai trò thắt lưng buộc bụng, nhưng thắt ai và buộc ai là quyết định của lãnh đạo. Khi đầu tư nhiều để nâng sản lượng cho một thị trường nội địa không được tiêu thụ như ý thì nhà nước đẩy mạnh xuất cảng và độc quyền thu về ngoại tệ nên có khối dự trữ mấp mé bốn ngàn tỷ đô la để có thể bành trướng ảnh hưởng với thiên hạ.


Trong một cửa hàng điện tử ở Quảng Đông, Trung Quốc
Trong một cửa hàng điện tử ở Quảng Đông, Trung Quốc


- Thế giới cứ ngợi ca “phép lạ kinh tế” Trung Quốc mà ít thấy khái niệm "tăng đầu tư" và "giảm tiêu thụ" có nghĩa là nhà nước trưng thu tiết kiệm rất nhiều và rẻ của dân để đưa vào sản xuất. Nếu Tần Thủy Hoàng Đế mà có truyền thông quốc tế ở chung quanh thì Vạn Lý Trường Thành ở miền Bắc hay kinh đào Linh Cư tại miền Nam cũng được coi là sự kỳ diệu vì giải quyết được nạn thất nghiệp cho một dân số qúa đông! Người ta thấy ra cái "được" mà khó đếm được cái "mất" - như ô nhiễm môi sinh, tham nhũng hay bất công xã hội, là các vấn đề đang ám ảnh lãnh đạo xứ này.

Hải Ninh: Thưa ông, khi nhắc đến yếu tố lịch sử gần xa thì ta có thể nhớ tới biến cố 2008-2009 rất gần đây là khi kinh tế thế giới bị suy trầm, xuất cảng của Trung Quốc sút giảm thì Bắc Kinh bơm tiền kích thích để vẫn duy trì đà sản xuất cũ. Việc bơm tiền qua ngả tín dụng, chủ yếu là qua hệ thống ngân hàng của nhà nước, đã đẩy kinh tế vượt qua Nhật Bản năm 2010, do đó người ta mới có ấn tượng rằng Trung Quốc rất mạnh về kinh tế, nhưng phải chăng mặt trái cùa sức mạnh ấy là một núi nợ được ước lượng vào khoảng 282% của Tổng sản lượng xứ này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta đều có thể hiểu thiên hạ vay tiền để đầu tư, khi thấy đầu tư có lời cao thì vay thêm để đầu cơ, là kiếm lời lớn hơn trong ngắn hạn nhưng với rủi ro cao hơn. Khi dàn máy bơm tiền lại thuộc về nhà nước, do tay chân nhà nước điều tiết theo diện chính sách mà bất chấp quy luật thị trường thì đằng sau nạn đầu cơ chỉ là "lạm dụng tín dụng". Tức là tay chân nhà nước và thân tộc mở canh bạc theo kiểu tháp ảo làm kinh tế bốc như trái bóng bay, hay bọt xà bông. Ngày nay, nạn đầu cơ địa ốc thổi giá đất đai của nhiều tỉnh thành Trung Quốc chả khác gì Nhật Bản trước khi Nhật bị bể bóng năm 1990 và trôi vào hai chục năm suy trầm. Ở bên dưới trái bóng Trung Quốc là bộ máy sản xuất dư dôi ế ẩm, chưa sử dụng hết 60% công xuất, nằm bên núi nợ xấu sẽ sụp khi bóng bể. Lãnh đạo Bắc Kinh có hiểu ra mối nguy ấy nên muốn tránh và tìm cách dồn sức đầu tư ra ngoài. Các dự án họ trù tính thực hiện ở nơi khác nằm trong chiều hướng phân mỏng rủi ro mà gia tăng thế lực trong khi vẫn muốn nắm dao đằng chuôi.

Hệ thống tài chánh ngân hàng TQ có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại - Nguyễn-Xuân Nghĩa

Hải Ninh: Có lẽ hiểu ra mối nguy ấy nên thế hệ thứ năm lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 quyết định chuyển hướng. Một năm sau, Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba của khóa 18 đề ra phương hướng cải cách và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Thay vì 9-10% thì quãng 7,5% cũng là được. Có thể là Bắc Kinh biết rằng phải giảm tốc độ cho cỗ xe khỏi lật khi vào khúc quanh. Nhưng vì sao mà ngày nay họ vẫn đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là hơn 7% một năm trong khi giới quan sát kinh tế hay các định chế tài chính quốc tế đều cho rằng Trung Quốc khó đạt mức tăng trưởng như vậy và nếu không khéo thì kinh tế sẽ hạ cánh nặng nề chứ không nhẹ nhàng như lãnh đạo Bắc Kinh mong muốn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bắc Kinh tính cải cách với ý thức cao về chính trị và có chuẩn bị về tổ chức. Nhưng sau 30 năm thì phép lạ kinh tế cũng sinh ra nhiều bệnh lạ. Hệ thống tài chánh ngân hàng Trung Quốc có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại chỉ thị của trung ương. Việc bơm tiền hay phân phối tài nguyên qua nhiều ngả mờ ám như ngân hàng chui vẫn tiếp tục chất lên một núi nợ mà chúng ta trình bày trong một kỳ trước. Vì vậy, lãnh đạo xứ này phải tập trung lại quyền lực về trung ương qua chiến dịch diệt trừ tham nhũng và vận động hậu thuẫn của quần chúng lẫn quân đội bằng những động thái mang tính chất bành trướng đối với các nước lân bang.

Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ - Nguyễn-Xuân Nghĩa

Hải Ninh: Theo cách đánh giá của ông thì phải chăng việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo tại vùng biển Đông Nam Á và công bố Sách Trắng về Quốc Phòng cũng còn có chủ đích trấn an hay tranh thủ dư luận ở ngay bên trong Trung Quốc? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãnh đạo Bắc Kinh nói đến yêu cầu chuyển hướng quân sự theo tinh thần gọi là “chủ động phòng thủ” thì khái niệm phòng thủ đó bao trùm lên chính trường nội địa! Khi các quốc gia khác báo động về mối nguy của Trung Quốc thì Bắc Kinh càng yên tâm rằng thần dân bên trong thêm hãnh diện về thế lực của quốc gia trên trường quốc tế mà bớt phàn nàn về chuyện kinh tế. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh lấy nhiều rủi ro về đối ngoại và gây vấn đề cho lân bang khiến các đề nghị hợp tác và xây dựng của họ trong kế hoạch Con Đường Tơ Lụa, họ gọi là “Nhất Đai Nhất Lộ” lại mất dần sự hấp dẫn về kinh tế khi cân nhắc với rủi ro về an ninh. Đấy cũng là khía cạnh khác về chuyện mạnh yếu của Trung Quốc khi ta đối chiếu với nỗ lực đầu tư và viện trợ tương tự của Nhật Bản tại Đông Á. Nhiều nước Đông Nam Á không sợ Nhật Bản mà e ngại Trung Quốc và đấy không là một thế mạnh của Bắc Kinh.

Hải Ninh: Nếu tổng kết lại, thưa ông có phải Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề kinh tế ở bên trong mà lãnh đạo muốn khỏa lấp bằng kế hoạch quy mô với bên ngoài và vì vậy lại gây cảm giác bất an cho các nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng về kinh tế, lãnh đạo Bắc Kinh cần đạp thắng để đổi hướng, rồi sợ tăng trưởng giảm làm thất nghiệp tăng và bị động loạn nên lại ngầm bơm tiền kích thích qua nhiều kênh mà họ biết là thiếu an toàn. Năm ngoái, họ thử nghiệm biện pháp bơm tiền tinh tế hơn, không qua ngả tín dụng ngân hàng đầy rủi ro mà qua việc ngân hàng trung ương mua lại trái phiếu của một số khu vực nhất định, như công khố phiếu ở các địa phương miền Tây, miền Trung, hay trái phiếu hỏa xa, gia cư hay ngân hàng. Năm nay thì họ vừa cho phép đảo nợ tại một số tỉnh, tức là cũng thi hành biện pháp bất thường các nước Tây phương đã áp dụng, là "quantitative easing", là tăng mức lưu hoạt có định lượng. Đâm ra Trung Quốc chưa thể hãm đà tăng trưởng để tìm ra thế quân bình bền vững hơn, với tiêu thụ nội địa mới là lực đẩy.

- Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ. Chúng ta có thể gọi đó là “Hội chứng Vương An Thạch” là khi Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch tiến hành việc cải cách mà thời đó gọi là “biến pháp”. Vì sự cưỡng chống của phe bảo thủ bên trong, họ Vương đi tìm thắng lợi quân sự ở bên ngoài qua quyết định tấn công Việt Nam vào năm 1075. Nào ngờ quân Tống đại bại dưới tay Thái úy Lý Thường Kiệt, Vương An Thạch mất chức và chuyện biến pháp cũng thành nước lã ra sông và nhà Đại Tống lụn bại dần. Việt Nam ngày nay không được như đời Lý ngày xưa nhưng thế giới ngày nay không chỉ có Trung Quốc với Việt Nam - và rủi ro cho Trung Quốc là chuyện có thật vì họ chưa hùng mà đã đòi hung.

Hải Ninh: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phỏng vấn lý thú này.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Đối Phó Với Trung Quốc



Hùng Tâm - 150602
Hồ Sơ Người-Việt


Những chiêu pháp biến hóa và nỗi lo của Nhật Bản

* Bước ra là đạp vào nhà người khác * 



Chúng ta bình luận thế nào về việc Bắc Kinh đơn phương bành trướng ra Đông Hải và tranh chấp với các lân bang Đông Bắc Á và Đông Nam Á và gây nguy cơ đối đầu với Hoa Kỳ?

Trung Quốc đã mất hai chục năm xây dựng lực lượng Hải quân, là từ đầu thập niên 1990 khi mà lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa một Đô đốc lại cầm đầu quân đội. Nhân vật đó là Đô đốc Lưu Hoa Thanh (1916-2011) được Đặng Tiểu Bình đưa lên vị trí cao nhất trong đảng, là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội bên Chủ tịch/Tổng bí thư Giang Trạch Dân từ năm 1989 đến 1997. Họ Lưu đã hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc cho một viễn ảnh trường kỳ là 1) kiểm soát được các quần đảo trong vùng biển cận duyên vào thời điểm 2000-2010, rồi 2) mở rộng khả năng kiểm soát viễn duyên để ra tới đại dương vào khoảng 2010-2020. 

Thời điểm ấy đã tới. 

Nếu cũng nhìn sự thể trong viễn ảnh trường kỳ, người ta không nên ngạc nhiên, hoặc giận dữ, vì những gì Bắc Kinh đã làm, rồi nói, hoặc chối, mà vẫn thực hiện. Bạch thư về Quốc phòng do Bắc Kinh công bố tuần vào ngày 26 Tháng Năm, chỉ xác nhận chuyện đó. Người ta nên tranh luận về cơ sở pháp lý của việc Bắc Kinh đơn phương chiếm đoạt quần đảo Trường Sa và xây dựng khả năng bành trướng ra hải dương. Điều ấy không thừa về ngoại giao chính trị, nhưng vẫn chưa đủ. Người ta nên nhìn xa hơn và nghĩ đến khả năng đối phó của các nước ở gần tầm đạn của Bắc Kinh. 

“Hồ Sơ Người-Việt” sẽ tìm hiểu về khả năng đó…


Thế Trận Đông Hải


Chúng ta nên nghĩ đến hình tượng bát trận đồ, với những kết hợp và biến hóa linh động.

Thứ nhất, trận đấu trí có nhiều đối tác chứ không chỉ có hai nước như Hoa Kỳ và Trung Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản hay Việt Nam với Trung Quốc. Chiến lược bành trướng của Bắc Kinh liên quan tới Nam Hàn, Hoa Kỳ, Đài Loan, Bắc Hàn, Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á, lẫn Ấn Độ và Úc Đại Lợi, tức là có ít ra 18 nước lớn nhỏ và gần xa. Thứ hai, trong tập thể 18 quốc gia đó, hãy tưởng tượng đến sự tính toán song phương, giữa từng cặp, ví dụ như Hoa Kỳ với Trung Quốc, Nhật Bản với Nam Hàn hay Philippines với Hoa Kỳ căn cứ trên những quan hệ song phương của họ. 

Bước thứ ba mới là nghĩ đến thế liên kết đa phương để từng nước tranh thủ hay thuyết phục nhau, ví dụ như giữa bốn nước dân chủ theo kinh tế thị trường và có hiệp ước phòng thủ hỗ tương là Mỹ, Nhật, Hàn, và Đài Loan. Từ đó thì từng nước hay từng nhóm đối tác có nhiều chiến lược trong tinh thần biến hoá là liên kết hay đối lập với nhau, kể cả chiến lược hăm dọa có thể sử dụng, thí dụ như những thiệt hại khả dĩ xảy ra nếu không đạt nổi đồng thuận.

Bước thứ năm, sau khi tính ra những chiến lược khác nhau mà từng nước có thể áp dụng khi đấu trí hay đàm phán thì ta vẫn trở lại chuyện thế và lực, là từng nước phải nghĩ đến phương tiện kinh tế hay quân sự có thể huy động từ bên trong hoặc vận dụng từ các nước liên kết khác ở vòng ngoài. 

Bước thứ sáu là trong lối tính toán về huy động và vận dụng ấy, phải nghĩ đến quyền lợi có thể chia cho nước khác căn cứ trên sự đóng góp của họ. Không ai muốn nói chuyện hợp tác hay yểm trợ với một quốc gia chỉ muốn ăn người và đòi được bảo vệ miễn phí. Thứ bảy và quan trọng nhất trên một trận thế có nhiều giải pháp và chiến lược khả dụng, thì từng nước phải châm thêm yếu tố rủi ro hoặc khả năng chịu đựng hiểm nguy trong cách tính toán về quyền lợi của mình. Nếu chỉ nghĩ đến giải pháp ta cho là có lợi nhất mà không lý đến rủi ro hay thiệt hại thì mình bị nhược điểm duy ý chí trong cuộc đấu trí.


Nước Cờ Bắc Kinh 


Quốc tế không có quy định gì rõ rệt về quyền thiết lập hay quản trị vùng phòng không của các nước. Công ước Quốc tế về Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) có những chuẩn mực rõ ràng hơn, nhưng cơ chế quốc tế ấy lại không có khả năng cưỡng hành. Đấy là cơ hội Trung Quốc đang khai thác, để lấy sức mạnh làm lý lẽ bất chấp các quy định của quốc tế.

Thí dụ như Bắc Kinh sẽ lập ra vùng Nhận diện Phòng không (là ADIZ Air Defense Identification Zone) để từ các căn cứ vừa xây dựng trên quần đảo Trường Sa của các nước Đông Nam Á sẽ theo dõi phi cơ dân sự bay vào “không phận” của họ ở ngoài biển hầu “bảo vệ quyền lợi và an ninh lãnh thổ”. Mọi phi cơ dân sự bay vào vùng ADIZ phải xác nhận căn cước và đối thoại với cơ quan phòng không của nước "chủ nhà". Nghĩa là các nước phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo mà họ vửa cưỡng chiếm.

Về thực tế kỹ thuât, khu vực này phải rộng hơn không phận để bộ máy phòng không của Bắc Kinh kịp thời ứng phó với mối đe dọa khả dĩ xảy ra. Gặp trường hợp khả nghi, Không quân mới đưa chiến đấu cơ lên trực tiếp nhận diện máy bay lạ và kịp đối phó theo phép hỏi han, dụng lễ rồi mới dụng binh, nếu có phi cơ đòi tự sát.

Đấy là hoàn cảnh của Trung Quốc.

Đối diện thì ngoài Hoa Kỳ, gần hai chục nước kể cả Việt Nam, cũng có vùng bảo vệ như vậy.

Là một quốc gia quần đảo, Nhật có vùng ADIZ từ lằn ranh do Hoa Kỳ vạch ra sau Thế chiến II, nhằm bảo vệ không phận từ hướng Tây. Vùng ADIZ do Nhật thiết lập năm 1969 trùng với vùng đặc quyền kinh tế EEZ, nhưng Tháng Sáu năm  2013, Nhật mở vùng ADIZ thêm 22 cây số về hướng Tây, và khi ấy, Đài Loan có than phiền là "đáng tiếc". Nhưng rồi thôi vì Đài Loan không sợ Nhật đòi tiền mãi lộ khi thương thuyền của mình đi qua vùng ADIZ của Nhật!

Chi tiết đáng chú ý ở đây là lằn ranh xa nhất của Nhật chỉ cách lãnh thổ Trung Quốc có 130 cây số. Cho nên, Bắc Kinh không phát minh ra trò này và nay mới chỉ hăm dọa.

Tại vùng Đông Bắc Á, vùng ADIZ của Trung Quốc đi tới mức xa nhất về hướng Đông, và trùm lên đảo Jeju của Nam Hàn, vùng ADIZ của Đài Loan và nhất là vùng ADIZ mới của Nhật. Việc Bắc Kinh vẽ ra lằn ranh phòng vệ lên vùng phòng không của các lân bang mới bị cho là gây bất ổn vì làm thay đổi hiện trạng. Bây giờ, nếu họ tiếp tục như vậy trên vùng Đông Nam Á thì sao?



Những Thách Thức Cho Bắc Kinh


Ta thấy vấn đề không chỉ là trận đấu trí giữa Bắc Kinh và Tokyo trên không phận của cụm đảo Senkaku của Nhật mà Trung Quốc nhận là Điếu Ngư của mình. Vấn đề cũng không là cuộc đấu trí hay hăm dọa của Bắc Kinh với từng nước Đông Nam Á trong tương lai trước mặt.

Trên bậc thềm không gian trước khi bay vào lãnh thổ, Bắc Kinh giao hẹn với thiên hạ rằng từ nay các máy bay ra vào thì phải xin phép cơ quan hữu trách của Trung Quốc. Nếu không, máy bay vi phạm sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Từ vài năm qua, các hãng hàng không dân sự đều cân nhắc rủi ro và lấy quyết định an toàn cho khách hàng, theo kiểu tránh voi chẳng xấu mặt nào. Sau khi ngần ấy nước than phiền thì mọi hãng máy bay đành tuân thủ đòi hỏi của Bắc Kinh để tránh họa. 

Cái yếu tố rủi ro trong trận thế của Trung Quốc khiến Bắc Kinh coi như đã thắng một keo!

Nhưng nếu mối nguy không đến từ phi cơ dân sự mà đến từ một quốc gia thì Bắc Kinh tính sao?

Đấy là một thách đố mà chúng ta chẳng nên quên vì tính gì thì tính sau khi vạch ra luật chơi mới  Bắc Kinh phải có khả năng động thủ nếu quả thật là bị đối thủ thách thức. Khả năng đó gồm có hai mặt. Một là phải theo dõi được mọi chuyện trên không phận trùng lập với lằn ranh phòng thủ của xứ khác. Thứ hai là phải thi hành được lời răn đe.

Khả năng theo dõi đó đòi hỏi sự phối hợp giữa lục quân, hải quân với không quân và "Đệ nhị Pháo binh" (hệ thống hỏa tiễn). Bắc Kinh chưa có khả năng phối hợp này nếu so với đối thủ gần là Nhật Bản và đối thủ xa là Hoa Kỳ. Bạch thư Quốc phòng của họ mới chỉ nói đến những ý hướng sẽ thực hiện mà thôi.

Nước Nhật là một quần đảo có nhiều cơ sở quân sự nằm sát Hoa lục, với trình độ kỹ thuật cao gấp bội. Hệ thống bảo vệ trên đất liền của Trung Quốc lại ở quá xa "hiện trường" là lằn ranh ADIZ nằm mãi ngoài khơi Đông Hải của họ. Nếu muốn xuống tới vùng biển Đông Nam Á, Bắc Kinh còn phải đi xa hơn, từ các căn cứ trên đất liền tới các đảo nhân tạo mà họ vừa thực hiện.

Thứ nữa, khi hữu sự thì Bắc Kinh phải có khả năng ra đòn và đỡ đòn khi bị phản đòn. Cụ thể là muốn thật sự bảo vệ không phận thì còn phải xác định đối tượng, chứ không thể bắn hạ hay hăm dọa bắn hạ mọi vật lạ mà mình chưa biết là gì và bắn hạ bằng võ khí nào là thích hợp. Thách đố ấy đòi hỏi loại chiến đấu cơ có thể ngăn chặn và tiêu diệt đối thủ theo đúng lời hăm, và các chiến đấu cơ phải có căn cứ ở gần hiện trường.

Vì đã nhoài mình quá xa ra ngoài, Bắc Kinh cũng chưa có khả năng đó.

Cho nên, Bắc Kinh mới chỉ dọa già trong khi ráo riết thi đua để tiến tới trình độ "lực tòng tâm". Ngoài nhu cầu tháu cáy dọa già, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn cho thần dân hỷ hả khi thấy đảng đơn phương vẽ lằn ranh lên trời mà người đời đều sợ. Nhưng kết luận như vậy thì vẫn chưa là phép đấu trí thật trên trận đồ bát quái!



Nhật Bản Bất An


Trong trận thế do Bắc Kinh vừa mới vạch ra, Hoa Kỳ là quốc gia đã có những phát biểu mạnh nhất mà thật ra, Mỹ chưa bị trực tiếp đe dọa và không muốn động thủ. Bắc Kinh cũng không chơi dại, mới chỉ muốn làm chủ vùng biển cận duyên và trông cậy vào sự nhu nhược của Hoa Kỳ dưới triều đại Barack Obama. Nhật Bản mới là cường quốc nằm trong tầm nhắm của Trung Quốc.

Từng là đại cường hải dương khi Trung Quốc còn lạc hậu vào thế kỷ 19, Nhật đã bị Mỹ khuất phục và giải giới bằng hai quả bom nguyên tử vào năm 1945. Từ cục diện đó, trong 70 năm qua, Nhật chỉ có thế thủ chứ không được phép công.

Ngày nay, trước sự xuất hiện và hăm dọa của Trung Quốc, Nhật mới thấy số phận bất an. Trên đầu thì đến Bắc Hàn nhỏ nhít còn có thể thao dượt hỏa tiễn. Dưới nước thì Bắc Kinh vẽ ra lằn ranh mới. Tại vùng Đông Bắc Á, lằn ranh đó đe dọa an ninh của Nhật, tại vùng Đông Nam Á, lằn ranh đó sẽ đe dọa kinh tế Nhật vì bao trùm lên khu vực vận chuyển phân nửa hàng hóa toàn cầu.

Trên lãnh thổ bát ngát của mình, khi lụn bại và gặp rủi ro, lãnh đạo Trung Quốc còn có đất lùi là khu vực nội địa. Nhật Bản chỉ còn nước lùi ra biển.

Vì vậy, trong khi Mỹ ăn nói nước đôi với nhiều bửu bối yểm sẵn ngoài khơi, và Tầu tưởng bở mà lấn đất giành hơi, Nhật nghĩ tới kịch bản tệ nhất của trận đấu trí. Không ồn ào như anh Sơn Đông mãi võ ngoài chợ đời, Nhật tự chuẩn bị cho trận đấu lực.

_______________________

Kết luận ở đây là gì?

Trên cuộc cờ rắc ngoài Đông Hải, giữa cái uy giả của một Trung Quốc hung hăng mà mặc cảm và nỗi lo thật của Nhật Bản, yếu tố nào mới thật sự đáng sợ?

Khi có chuyện, các lân bang và thế giới sẽ phản ứng thế nào? Bênh vực Trung Quốc? Còn lâu!

Và nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại muốn tự sát trong trò hăm dọa này, ai sẽ là người can ngăn?