Hiển thị các bài đăng có nhãn Bất công là gì? Địa dư và Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bất công là gì? Địa dư và Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Âu Châu: Vô Cương nên Bất Thường



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 150807


Những nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng   

* Một mỏm rực rỡ của cả đại lục Âu-Á *



Khi theo dõi cuộc tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ, với đề tài đang làm đảng Cộng Hòa lúng túng là hồ sơ di dân, ta có thể nhìn qua Âu Châu là nơi có cùng loại vấn đề ấy, nhưng rắc rối gấp bội….


Hôm Thứ Tư mùng bốn Tháng Tám vừa qua, thêm một con thuyền chở di dân lậu bị đắm ngoài khơi nước Ý, bên trong có khoảng 600 người. Từ Tháng Tư, nạn thuyền nhân nhập lậu từ các nước miền Nam vào Âu Châu khiến mỗi tháng có cả trăm người thiệt mạng vì đắm tầu trên Địa Trung Hải. Khi ấy, người ta được biết thêm là từ gần hai năm nay, tầu bè của Ý đã phải cứu vớt hơn 200 ngàn người trên biển!

Về bối cảnh, khủng hoảng và chiến tranh trải rộng từ Bắc Phi, Tây Phi qua Trung Đông khiến dân chúng chạy loạn vào nhau. Người có tiền, vài ngàn đô la một người chứ không ít, thì cố ra khỏi vùng giao tranh trong thế giới Hồi giáo để tìm cuộc sống ở nơi yên bình hơn: Âu Châu. Vì không phải ai cũng có khả năng di tản bằng máy bay qua các phi cảng quốc tế, nhiều hải cảng Bắc Phi của Maroc, Algérie, Tunisie hay Ai Cập (Egypt) được dùng làm nơi xuất phát của làn sóng di tản từ miền Nam lên. Ở tại chỗ, cư dân thấy khổ vì thịt cá đều lên giá vì ngư dân đổi nghề từ đánh cá sang dẫn người vượt biên.

Tại Libya, một xứ Bắc Phi đang tan tành nhờ công lao can thiệp của Barack Obama và Hillary Clinton năm 2011, người ta ít thấy xảy ra nạn bắt cóc đòi tiền chuộc mạng như khủng bố Hồi giáo đã làm ở Syria, Iraq hay phía Bắc xứ Mali. Chỉ vì nghề dẫn người vượt biển lại có lời hơn. Đâm ra sau khi lãnh tụ Muamar Ghaddafi bị giết, Libya là trạm trung chuyển của dịch vụ xuất cảng di dân lậu!

Bên kia Địa Trung Hải, các nước Âu Châu tại miền Nam đều bị khốn đốn khi kinh tế suy trầm và nợ nần đang đe dọa: vụ khủng hoảng của khối Euro lại dồn chung vào vụ khủng hoảng di dân….

Đã vậy, các nước ở xa tại miền Đông thì nhìn vào một biên cương khác đang bị chuyển dịch. Xứ Ukraine với bán đảo Crimea bị Liên bang Nga thôn tính, các tỉnh miền Đông bị Nga sai người tấn công để sát nhập vào khối “Thân Nga”, vùng trái độn cho Tổng thống Vladimir Putin. Họa vô đơn chí, sau khi các nước Tây Âu thấy khó chịu vì làn sóng di dân từ Đông Âu được giải phóng khỏi chế độ Xô viết đổ vào xứ mình kiếm việc thì nay đến lượt các nước miền Bắc gặp vấn đề. Di dân tụ tập trong các khu ổ chuột quanh đường hầm Channel và hải cảng Calais của Pháp để tìm cách xâm nhập nước Anh: bên kia sông, dưới lớp sương mù của Anh quốc là ánh mặt trời.

Ngần ấy khó khăn khiến nhiều nước Âu Châu muốn xét lại chánh sách di trú bên trong Liên hiệp Âu châu theo tinh thần của Hiệp ước Schengen (tên một thành phố của Luxembourg).

Được ký kết từ năm 1985 rồi mở rộng cho 26 quốc gia, Hiệp ước quy định quyền tự do di chuyển và cư trú của người dân bên trong các nước thành viên. Nhiều đảng phái quốc gia, thuộc cánh hữu, không muốn duy trì tinh thần tự do đó vì xã hội mất dần bản sắc văn hóa riêng và có khi còn nhập cảng khủng bố Hồi giáo!

Đấy mới là bối cảnh phức tạp của Liên Âu.


***


Trên đại lục địa Âu-Á, phía miền Tây được gọi là Âu Châu gồm 50 quốc gia lớn nhỏ, xưa nay đã từng khuynh đảo cả thế giới từ hơn 500 năm. Bên trong, họ giao chiến và giết hại nhau trong nhiều thế kỷ, với cao độ tàn sát là hai trận Thế chiến của Thế kỷ 20.

Từ đấy, các nước Âu Châu mơ ước thành lập một hệ thống hợp tác cho hòa bình và thịnh vượng trên cơ sở của luân lý và kinh tế: các nước tự do trao đổi với nhau để mưu tìm thịnh vượng, và không tái diễn việc chuyển dịch biên cương – một nguyên nhân của chiến tranh – để có hòa bình, nhưng bên trong thì vẫn tôn trọng chủ quyền quốc gia mà coi nhẹ các vấn đề biên giới.

Một cách cụ thể minh diễn lý tưởng Âu Châu ấy: biên cương vẫn còn nguyên vẹn, không được tẩy xóa, mà giữ vai trò thấp hơn, với nhiều lỗ hổng cho quyền tự do chuyển dịch hàng hóa và cư dân.

Nhưng lịch sử và thực tế thường xé nát những ước mơ lý tưởng và lý thuyết đó.

Lý tưởng cao đẹp của Thế kỷ Minh triết – cái gốc của tinh thần dân chủ và chủ nghĩa quốc gia – dẫn đến sự chuyển hóa chế độ quân chủ thành các quốc gia có biên cương và tôn trọng dân quyền bên trong. Quyền dân có được mở rộng, nhưng sức mạnh của các quốc gia lại dẫn đến chiến tranh. Từ phong trào thống nhất các tiểu vương quốc hay quân quốc Âu Châu thành nhiều quốc gia, những cuộc chiến kéo dài mới gây ra tình trạng dời đồi cột mốc của biên cương và vây hãm người dân xứ này trong vòng cai trị của một quốc gia hay dân tộc khác. Cao điểm là chiến tranh Pháp-Phổ năm 1871 hay Đại chiến năm 1914 rồi Thế chiến II năm 1939.

Từ những năm 1945 trở về sau, dự án Liên Âu nêu ra lý tưởng giải phóng người dân khỏi những câu thúc hay khuôn khổ của biên giới. Lý tưởng ấy trước hết giải phóng luồng vận chuyển hàng hóa và cả tiền tệ nên ngày nay người ta mới có 28 nước thành viên của Liên Âu với chế độ tự do thương mại. Bên trong có 19 nước xài chung một đồng tiền là khối Euro.

Tránh được chinh chiến thì khủng hoảng tài chánh lẫn kinh tế vẫn bùng nổ từ năm 2010, chỉ vì hệ thống hợp nhất thương mại mà không thống nhất chính trị đã gây ra - mà khỏa lấp - những sức ly tâm và mầm phân hóa. Âu Châu không thể giải quyết được các bài toán đó nếu không bình tĩnh nhìn vào thực tế là phải có hệ thống chính trị thống nhất, có thẩm quyền xuyên quốc gia, tức là phải có một Liên bang Âu châu, bên trong, mỗi quốc gia chỉ là một tiểu bang.

Liên bang Hoa Kỳ là nơi mà hàng hóa, tiền tài và dân chúng tại California hay New York có quyền đi qua Nevada hay Texas, và đồng Mỹ kim dùng chung cho 50 tiểu bang lại thuộc thẩm quyền quyết định của hệ thống Ngân hàng Trung ương độc lập. Âu Châu chưa đi tới đó.

Và khó thực hiện lý tưởng hòa bình thịnh vượng nếu không triệt tiêu chủ quyền quốc gia cho một siêu quyền lực quốc tế. Việc nước Pháp hay Đức đang đề nghị tăng cường vai trò chính trị của Liên Âu, hoặc ít ra một chế độ thuế khóa thống nhất trong khối Euro, là một bước đúng hướng nhưng có rất nhiều chông gai trước mắt.

Vụ khủng hoảng vì hiện tượng di dân bên trong và thuyền nhân bên ngoài đang gây thêm nhiều vấn đề mới.


***


Trước hết, Âu Châu là một quần thể các nước hải đảo hay bán đảo ở miền Tây đại lục địa Âu-Á lại tiếp cận với thế giới Hồi giáo ở miền Nam.

Trong nhiều năm, các nước Tâu Âu đã sống trong ảo tưởng mà tiếp nhận di dân từ các nước nghèo ở miền Nam để có nhân công rẻ cho kinh tế và trùm lên trên một khái niệm lý tưởng là một xã hội đa văn hóa. Thực tế thì nhiều di dân từ miền Nam kiếm ăn tại Âu Châu mà không chấp nhận văn hóa Âu Châu và cũng chẳng được hội nhập. Họ không trở thành người Âu Châu dù có quốc tích Âu Châu và họ xây dựng hậu cứ văn hóa tôn giáo riêng, là môi trường hoạt động của các nhóm Hồi giáo cực đoan quá khích. Như những tế bào không được cơ thể tiếp nhận, môi trường đó gây ra nạn ung thư của khủng bố Hồi giáo.

Bộ não của cơ thể này, là hệ thống lãnh đạo Âu Châu còn chưa ý thức được mâu thuẫn không thể gỉai quyết giữa tự do thương mại và thống nhất tiền tệ mà không có thống nhất chánh trị, hay ít ra là thẩm quyền về chính sách kinh tế tài chánh thống nhất. Làm sao hệ thống lãnh đạo ấy dám nhìn vào các tế bào ung thư của khủng bố Hồi giáo, hay sự giả trá bất lực của lý tưởng đa văn hóa?

Y như Hoa Kỳ với di dân từ miền Nam, Âu Châu sẽ mất dần bản sắc và sức mạnh trong đà bành trướng của di dân gốc Bắc Phi và Trung Đông theo đạo Hồi. Các quốc gia muốn duy trì bản sắc thì bầu lên những chính đảng hữu khuynh, thậm chí cực hữu, với hậu quả trước mắt là gây thêm rạn nứt trong Liên Âu. Các chính đảng này không chỉ nghi ngờ di dân Hồi giáo, họ nghi ngờ cả kế hoạch hội nhập Âu Châu!

Bên trong hệ thống hội nhập đó, lý tưởng vô cương – không biên cương ranh giới – cho hàng hóa và tiền tệ thì đã bị thực tế xé rách với vụ khủng hoảng Hy Lạp trong khối Euro. Chế độ kiểm soát tư bản và chuyển ngân, như đã áp dụng hai năm trước cho một xứ lâm nạn là Cyprus có thể tạm cứu được khối Euro. Nhưng nếu lại áp dụng cho Hy Lạp thì đi ngược với chủ trương lý tưởng. Trục xuất Hy Lạp là giải pháp cần thiết mà ai cũng ngại vì những gì xảy ra sau đó cho cả khối Euro lẫn chế độ tự do thương mại và di chuyển hàng hóa.

Quyền tự do di chuyển có vẻ lý tưởng này tạo ra lợi thế cho các nền kinh tế mạnh mà xúc phạm chủ quyền của các nền kinh tế yếu ở miền Nam khi các quốc gia này muốn hưởng lợi nhưng không phải trả giá!

Sau cùng, một lý tưởng của Âu Châu từ năm 1945 đến 1992 là không dời đổi cột mốc biên giới đã lung lay sau khi hệ thống Xô viết sụp đổ, Liên bang Nam Tư tan rã rồi ngày nay bị Vladimir Putin bắn thủng với việc xâm phạm biên giới Georgia năm 2008 rồi tấn công Ukraine năm ngoái. Những biến cố có tính chất xâm lược ở vòng ngoại biên thật ra đang thách đố lý tưởng Âu Châu: làm sao từng nước có thể bảo tồn chủ quyền nếu không có khả năng bảo vệ biên giới?

Nhìn vào lọai vấn đề không thể có giải pháp của Âu Châu, chúng ta có thể kết luận về vấn đề di dân tại Hoa Kỳ. Đảng Dân Chủ tưởng rằng khôn khi chiêu mộ lá phiếu Latino bằng cách dón nhận di dân nhập lậu từ miền Nam. Cũng dưới khẩu hiệu đa văn hóa như nhiều nước Âu Châu, họ đang cấy nhiều tế bào lạ vào cơ thể Hoa Kỳ và tạo ra các vùng biên vực là hậu cứ của dân Latino. Sẽ có ngày giới dân cử của họ sẽ nói đến quyền bảo vệ ngôn ngữ riêng, rồi quyền tự trị.

Vài chục năm nữa, nước Mỹ sẽ gặp khủng hoảng như đang thấy tại Âu Châu.


Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Đồng Tiền Trong Chính Trị Mỹ

Vũ Linh - Việt Báo Ngày 150721

Bây giờ bà Hillary dự trù cần... hai tỷ đô để làm Tổng thống...

 * Ráp vào là ăn khớp!

 
Báo chí thời gian qua làm rùm beng về xì-căng-đan hai ông bà Clinton vơ vét tiền đủ kiểu, đặc biệt là qua những vụ mà Việt Nam hiện nay gọi là “chặt chém” trong thù lao đọc diễn văn, và “quyên góp” cho quỹ “từ thiện” Clinton Foundation. Đi đọc diễn văn cho mấy đứa trẻ con trong hướng đạo cũng “hai trăm rưởi, chắc giá, không bớt một xu”. Nhiều người thắc mắc, ngao ngán, sao lại có người tham lam quá mức như vậy. Cả triệu rồi vẫn chưa đủ, vẫn than “nghèo”, “gần phá sản” là sao? Trong khi đó thì đi đâu cũng vỗ ngực tranh đấu sống chết cho “lao động” Mỹ.

Thật ra, nói hai ông bà Clinton ham tiền thì hơi quá đáng vì không chính xác lắm. Hai ông bà đều là nhân vật quyền thế, uy danh hàng đầu, không có nhu cầu tiền bạc nhiều lắm đâu. Suốt ngày được mời mọc yến tiệc, đi tàu bay chùa mà lại là phản lực riêng chứ không phải mua vé rồi ra phi trường ngồi chờ hai ba tiếng đồng hồ như thiên hạ đâu. Đi đâu cũng xe đưa xe đón, khách sạn đài thọ đầy đủ, phục vụ chu đáo hết rồi. Cô con gái cũng lớn rồi, đi đọc diễn văn lai rai cũng lãnh 70.000 đô một bài rồi, cho dù chẳng ai nghe cô nói gì, chỉ cần mượn cái tên “Clinton” thôi.

Thế thì tại sao lại cắm đầu kiếm tiền làm gì? Xin thưa ngay: đó là để có tiền mua cái ghế trong Nhà Trắng. Vâng thật sự là vậy: không có tiền không thể nào đắc cử tổng thống trong cái xứ gọi là “dân chủ” này được.

Chế độ chính trị Mỹ mang tiếng là chế độ “dân chủ” nhất thế giới. Tất cả mọi công dân trên nguyên tắc đều có thể ra tranh cử tổng thống, và tất cả cử tri trên nguyên tắc cũng có thể bầu bất cứ người nào mình muốn làm tổng thống. Thực tế, chỉ là nói nghe cho vui thôi chứ chẳng bao giờ có chuyện lý tưởng vớ vẩn như vậy.

Cách đây không lâu, thời mấy ông Clinton và Bush tranh cử thì mọi việc đều tương đối khá sòng phẳng. Các ứng viên tổng thống đều ra tranh cử trong giới hạn tiền tranh cử do Nhà Nước chu cấp và cử tri đóng góp trong giới hạn nào đó, tương đối bằng nhau, trong những mức phải chăng.

Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1992 (là năm TĐ Clinton hạ đương kim TT Bush cha), hai chính đảng thu và chi xấp xỉ ngang ngửa nhau, khoản 50 triệu mỗi bên. Đến năm 2000, là năm TĐ Bush –con- hạ PTT Gore, hai bên thu chi trên dưới 200 triệu. Cả hai bên đều nhận trợ cấp không nhiều lắm của Nhà Nước, bằng nhau, cộng thêm một phần tiền do các mạnh thường quân ủng hộ cho đảng gọi là “tiền mềm”, soft money, chứ không phải cho cá nhân hai ứng viên,.

Nhưng đến năm 2008 thì cái đê ngăn nước bị TNS Barack Obama phá vỡ, cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc biến thành cuộc đấu thầu xem ai thu được nhiều nhất rồi chịu chi nhiều nhất. Giải thưởng là Nhà Trắng, bất kể kinh nghiệm, tài cáng, hay mánh mung gì.

Khi TNS Obama mới xuất hiện, chưa ai biết đến thì việc gây quỹ khó khăn, trong khi đối thủ là bà Hillary lại là cái giếng không đáy, nơi mà các đại gia đảng Dân Chủ đổ tiền vào. Ông Obama lên mặt đạo đức, sỉ vả bà Hillary lấy tiền đè người, mua chức tổng thống, kêu gọi bà ngưng gây quỹ cá nhân mà lấy tiền trợ cấp tranh cử của Nhà Nước cho công bằng. Lời kêu gọi của ông dĩ nhiên bà Hillary coi như không nghe thấy gì.

Thế rồi, nhờ tài ăn nói, nhờ đám phụ tá giỏi, và nhất là nhờ hậu thuẫn của khối thanh niên và trí “ngủ” sống trong mộng tưởng ngây ngô, ông nổi lên như niềm hy vọng của Mỹ. Khối này hậu thuẫn từ trí tuệ -khả năng tổ chức, tuyên truyền, vận động,...- cho đến tài chánh. Tiếng tăm nổi lên như cồn, cùng lúc với tiền vào như nước, giúp ông hạ được bà Hillary và ra tranh cử chống ứng viên Cộng Hoà, TNS John McCain.

Bây giờ thì ông McCain dùng gậy ông đập lưng ông, thách thức TNS Obama giữ lời hứa, không dùng tiền mua Nhà Trắng, chấp nhận tiền của Nhà Nước, đâu 80 triệu cho mỗi ứng viên. Để rồi bây giờ đến phiên TNS Obama dùng chiêu “võ điếc” không nghe thấy gì, nhắm mắt nhắm mũi đi gây quỹ. Ông McCain đành cố gắng lẹt đẹt chạy theo.

Kết quả, TNS Obama thu được 730 triệu và TNS McCain thu được 330 triệu. Tổng cộng cả hai bên là hơn một tỷ đô trong khi trong cuộc bầu cử giữa TT Bush cha và TĐ Clinton, tổng cộng chỉ hơn 100 triệu. Số tiền TNS Obama thu được là con số kỷ lục chưa từng thấy, lớn gần gấp mười lần số tiền Nhà Nước chuẩn bị cho mỗi ứng viên. Ở đâu ra số tiền đó? TNS Obama khoe hàng trăm ngàn người dân “thấp cổ bé họng” đã yểm trợ bạc cắc cho ông. Thực tế, các tài liệu về tiền yểm trợ cho thấy tuyệt đại đa số tiền ông thu được là do hai nguồn yểm trợ: các nghiệp đoàn bắt ép đoàn viên phải đóng tiền yểm trợ cho các “tổ chức hành động chính trị” - Political Action Committees hay PAC - và các đại gia Wall Street với những đại tài phiệt như George Soros, Bill Gates,… Bill Gates cũng là người tài trợ cho đài MSNBC (là sự hợp tác giữa MicroSoft -MS- và NBC), là đài TV phe ta hung hăng nhất.

TNS Obama quên bẵng những lời sỉ vả “lấy tiền đè người”, “mua chức tổng thống”, “công bằng”,… mà ông đã thân tặng bà Hillary. Chuyện quân tử Tàu, giữ lời hứa, là chuyện các chính khách Mỹ, đặc biệt là TNS Obama, chưa bao giờ nghe nói tới, khỏi thắc mắc. Nói như “tonton Thiệu”, đừng nghe những gì Obama nói...

Và rồi như ta đã biết ông đã mua được cái ghế trong Nhà Trắng thật.

Câu chuyện TNS Obama dùng tiền áp đảo đối phương để vào Nhà Trắng đã đi vào lịch sử Mỹ, như là biến cố thay đổi hẳn cấu trúc và phương thức tranh cử chính trị Mỹ: đồng tiền biến thành yếu tố chi phối kết quả bầu cử. Bốn năm sau, TT Obama chi 1 tỷ để tranh cử chống TĐ Mitt Romney. Bây giờ bà Hillary dự trù sẽ cần... 2 tỷ để vào Nhà Trắng.

Tiền bạc đã chi phối cuộc bầu cử tổng thống ngay cả ở cấp bầu sơ bộ.

Năm nay, bên Cộng Hòa chưa chi đã có tới 18 ứng viên ra chạy đua vào Nhà Trắng. Điểm nổi bật đáng nói hiện nay là ứng viên hàng đầu, với tỷ lệ hậu thuẫn nhất nhì, là tỷ phú Donald Trump. Ít người coi ông này như là một ứng viên nghiêm chỉnh, với nhiều hy vọng đắc cử làm đại diện cho đảng Cộng Hòa, khoan nói tới đắc cử tổng thống. Ấy vậy mà ông leo lên hàng đầu. Ông tranh cử bằng tiền túi của mình, rầm rộ khoe có gia tài gần mười tỷ, dư sức lấy tiền đè tất cả các ứng viên khác.

Thậm chí, có tiền cũng chẳng cần phải thắng ở cấp sơ bộ luôn. Như ông tỷ phú Ross Perot, bỏ tiền túi ra tranh cử trực tiếp chống TT Bush cha và TĐ Clinton năm 1992. Cũng thu được đâu 20% phiếu, phần lớn là từ khối bảo thủ của TT Bush, khiến ông này bị chia phiếu, và TĐ Clinton ngáp phải ruồi, vào được Tòa Bạch Ốc.

Dĩ nhiên, ta cũng phải hiểu là đồng tiền còn chi phối tất cả mọi cuộc tranh cử khác, chứ chẳng riêng gì tranh cử tổng thống. Tuy nhiên, ở những cấp dân biểu, nghị sĩ, hay cấp tiểu bang thì tương đối không lên đến những mức kinh hồn như tranh cử tổng thống.

Tại sao ngày nay tranh cử lại tốn quá nhiều tiền như vậy? Họ cần tiền cho ba mục tiêu chính:

- Sản xuất phim quảng cáo và mua thời gian quảng cáo trên TV và đài phát thanh;

- Mở văn phòng tranh cử tại càng nhiều tỉnh, quận hạt càng tốt, đặc biệt là trong khoảng một tá tiểu bang xôi đậu;

- Thuê các cố vấn vận động tranh cử, các chuyên gia điện toán và internet, marketing, thăm dò dư luận,...

Một điều quan trọng không kém là việc đồng tiền cũng chi phối các luật lệ mà các vị dân cử đưa ra hay không đưa ra.

Chính trị Mỹ có một hiện tượng có một không hai trên thế giới: đó là các chuyên gia của các nhóm vận động hành lang - lobby groups. Tại quốc hội, có cả ngàn chuyên gia kiểu này, đại diện cho đủ mọi ngành nghề, đủ mọi quyền lợi, đủ mọi địa phương, luôn cả đủ loại người như người già, nữ giới, đồng tính, da đen, da nâu, da vàng, di dân lậu, cựu quân nhân, công giáo, tin lành, v.v... Không thiếu một thứ nào hết.

Và ảnh hưởng của họ cực kỳ mạnh. Trên căn bản, họ có trách nhiệm theo dõi kỹ từng bộ luật được đưa ra, nghiên cứu xem khối quyền lợi của họ có bị đụng chạm hay không. Ngược lại, họ cũng có trách nhiệm xúi các vị dân cử đưa ra những luật mới có lợi cho quyền lợi của nhóm của họ. Giúp cho các vị dân cử có những lập luận, tài liệu, dữ kiện để ủng hộ hay chống một dự luật nào đó.

Đó là nói chuyện lý thuyết. Thực tế là họ dùng đồng tiền để khuynh đảo các vị dân cử. Đút lót cho họ tiền vận động tranh cử, là thứ tiền mà không có ông bà chính khách nào không cần. Làm theo ý họ thì có nhiều tiền, không làm theo ý họ là không có tiền tranh cử. Mà tiền nhiều thì hy vọng thắng nhiều, tiền ít thì hy vọng về quê câu cá rất cao.

Nhiều khi tiền mặt được trao trực tiếp. Như trường hợp một ông dân biểu của tiểu bang Louisiana bị FBI bắt với 50.000 đô tiền mặt giấu trong tủ lạnh trong văn phòng của ông. Khiến dân tỵ nạn ta bất ngờ có được một ông dân biểu tỵ nạn tại Hạ Viện, đại diện cho một khu vực mà đại đa số là dân da đen.

Lương các vị dân cử chỉ trên 150.000 một năm thôi, nhưng thực tế tất cả các vị dân cử, dân biểu hay thượng nghị sĩ, sau vài năm đều trở thành triệu phú hết.

Dân biểu Cộng Hoà Dennis Hastert, cựu Chủ Tịch Hạ Viện, mới đây bị truy tố ra tòa vì đút lót 3,5 triệu đô cho một người tống tiến ông ta, dọa khui tội lem nhem tình dục của ông cách đây mấy thập niên. Với mức lương trên dưới một trăm ngàn một năm, làm sao có được bạc triệu dễ dàng như vậy?

Cũng có khi đút lót bằng quà cáp, bao máy bay đi du lịch thế giới, hay đi tranh cử, bao đi đánh gôn, yến tiệc dài dài, mời đọc diễn văn với thù lao trên trời. Hay tặng tiền cho “quỹ từ thiện” của họ.

Ảnh hưởng của các nhóm vận động hành lang này không phải là không đáng kể.

Một ví dụ cụ thể nhất là vấn đề kiểm soát súng. Trong thời gian mấy năm gần đây, đã xẩy ra hàng loạt những vụ mấy anh khùng vác súng đi bắn thiên hạ. Mỗi lần xẩy ra chuyện này thì dư luận quần chúng lại ào ào nổi lên đòi ra luật kiểm soát súng đạn. Ngay cả TT Obama, mỗi lần có chuyện, cũng mau mắn chụp cơ hội lên tiếng kêu gọi ra luật kiểm soát súng đạn. Nhưng rồi cho đến nay, sau cả chục vụ, thì ta vẫn thấy tình trạng “vũ như cẩn”, chẳng có luật gì ra được hết. Các vị dân cử lên tiếng than phiền là “khó lắm”, vì đại đa số dân Mỹ vẫn rất mê súng đạn, không có cách nào lay chuyển ý thích này được.

Thực tế, vấn đề không phải là cử tri họ không cho họ ra luật kiểm soát súng đạn, mà chẳng qua, họ đã lỡ chìa tay nhận quá nhiều tiền của tổ chức NRA, tức là National Rifle Association, là hiệp hội những người sở hữu súng. Đây là một tổ chức cực mạnh về tài chánh, mỗi năm bỏ ra cả chục triệu tiền “lobby” mấy ông bà dân cử thuộc cả hai đảng. Chúng ta không có thống kê chính xác vì tất cả đều thuộc loại tin “bí mật”, không ai biết được chi tiết rõ ràng, nhưng có thể nói cỡ hai phần ba các vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà cũng như Dân Chủ, đều đã nhận được tiền yểm trợ của NRA. Do đó, há miệng mắc quai, họ không cho ra nổi bất cứ một luật nào nhằm kiểm soát sở hữu súng đạn được.

Thực tế trong chính trị Mỹ là các nhóm vận động hành lang phải “cho phép” thì một dự luật mới thành luật được.

Điển hình lớn nữa là Obamacare. Một bộ luật vĩ đại, với những hậu quả tài chánh khổng lồ cho các đại công ty trong ngành y tế như các công ty quản lý bệnh viện, các hãng bảo hiểm y tế, các công ty dược phẩm lớn, chưa kể các phòng mạch của các bác sĩ tư.

Năm 1992, bà Hillary thất bại hoàn toàn, không đưa ra nổi một dự luật để thảo luận trước quốc hội vì bị chống đối mạnh ngay từ trong nội bộ đảng Dân Chủ, cũng như từ các hiệp hội y sĩ, các nhà thương, hãng bảo hiểm, công ty thuốc, qua các nhóm vận động hành lang của họ.

Năm 2009, Obamacare ra đời được một phần là do đảng Dân Chủ kiểm soát được cả Toà Bạch Ốc lẫn hai viện quốc hội. Nhưng quan trọng hơn nữa là Obamacare đã không bị các nhóm vận động hành lang đại diện cho các đại công ty ngành y tế chống đối. Tại sao? Lý do giản dị là Obamacare khác với Hllarycare, thực sự rất có lợi cho các đại công ty ngành y tế, do đó, được họ chấp nhận.

TT Obama khi rao bán Obamacare đã long trọng hứa hẹn chi phí y tế, từ bảo hiểm cho đến nhà thương, bác sĩ, thuốc men, sẽ giảm đồng loạt cho tất cả mọi người. Lập luận của ông rất giản dị: Obamacare sẽ giúp khoảng ba chục triệu người có bảo hiểm y tế, tức là giúp cho ngành y tế có thêm ba chục triệu khách hàng. Do con số khách hàng gia tăng như vậy, nên giá cả sẽ giảm mạnh.

Cái lập luận này nghe xuôi tai, nhưng thực tế không phải vậy. Trong trường hợp khách hàng gia tăng mạnh như vậy, giá cả có thể giảm, nhưng với điều kiện là ngành y tế dư thừa bác sĩ, dư thừa nhà thương, dư thừa thuốc men. Thực tế trong xứ Mỹ này không có tình trạng dư thừa đó, cho nên khi khách hàng tăng cả chục triệu người một sớm một chiều, thì sẽ xẩy ra tình trạng khan hiếm bác sĩ, nhà thương, và thuốc men. Và kết quả hiển nhiên là giá cả y tế sẽ phải tăng. Luật cung cầu sơ đẳng. Khi cung vẫn vậy mà cầu tăng vọt thì giá cả bắt buộc phải tăng thôi. Kinh tế thị trường không có đuôi định hướng gì hết là vậy.

Làm con tính sơ đẳng đó, các đại công ty ngành y tế thấy rõ hai chuyện: thứ nhất khách hàng sẽ tăng mạnh, thứ nhì giá cả cũng sẽ tăng mạnh luôn. Và họ được lời to. Do đó, họ không chống phá Obamacare, các chuyên gia vận động hành lang chẳng những không ngăn cản, mà trái lại còn ra sức giúp cho Obamacare được thông qua, giúp cho Obamacare trở thành luật.

Muốn thấy bằng chứng là Obamacare có lợi cho các đại công ty ngành y thì chỉ cần nhìn vào thị trường chứng khoán Dow Jones, nhân ngày Tối Cao Pháp Viện biểu quyết không giết Obamacare mới đây, hạ tuần tháng Sáu vừa qua. Ngay sau quyết định, giá cổ phiếu các công ty ngành y, nhất là các công ty quản lý bệnh viện, nhẩy vọt lên từ 10% đến 20% trong vài tiếng đồng hồ, tuy đến cuối ngày thì giảm lại xuống mức vừa phải hơn khoảng từ 5% đến 10%. Những người đầu tư vào ngành y thấy rõ duy trì Obamacare sẽ giúp các công ty này có lời nhiều hơn trong tương lai, và đó là nơi họ có thể đầu tư lâu dài. Thiên hạ xúm vào mua cổ phiếu của các đại công ty đó, đưa đến mức giá tăng vọt.

Nhìn vào câu chuyện Obamacare ta mới thấy cái tài của phù thủy Obama: ra một luật có lợi lớn cho các đại tài phiệt ngành y, nhưng giấu nhẹm khía cạnh này nên ít ai nhìn thấy, trong khi quảng bá mạnh khía cạnh “nhân đạo” giúp cho nhiều người có bảo hiểm sức khoẻ hơn, nên được thiên hạ vỗ tay hoan hô kịch liệt. Một phần cũng nhờ những lươn lẹo, lắt léo, dối trá mà GS Gruber, một trong những người vẽ ra Obamacare, đã tiết lộ.

Bà Hillary, một chính khách lão làng về tuổi tác lẫn kinh nghiệm chính trường Mỹ, đã nhìn thấy hơn ai hết sức mạnh của đồng tiền trong chính trị, do đó đã hùng hục lo kiếm tiền từ gần cả chục năm nay. Cả hai ông bà kiếm tiền cho riêng mình, nhưng cũng kiếm tiền rất nhiều, hơn hai tỷ, cho quỹ từ thiện Clinton Foundation. Nếu có người nào nghĩ đây chỉ là quỹ tư thiện thuần túy thì người đó phải là ngây ngô nhất nhân loại. Mấy ông độc tài giết người không chớp mắt không có dư thừa lòng nhân đạo để tặng quỹ từ thiện bạc triệu chống bệnh AIDS. Với tư cách tổng thống, sao họ không bỏ tiền ra cho ông bộ trưởng y tế của họ làm việc này tại nước của họ, mà lại phải đưa tiền cho bà Hillary? Họ nhìn thấy rất rõ cái bà chủ nhân quỹ đó có rất nhiều triển vọng làm tổng thống Mỹ. Đấm mõm ngay từ cả mấy năm trước cho chắc ăn mai mốt sẽ có “đồng minh” trong Nhà Trắng. Mặt khác, bà Hillary cũng hiểu rất rõ phân phát tiền bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất để lấy cảm tình và cuối cùng là lấy phiếu thôi.

Và cho đến nay, chưa ai kiếm tiền và phát tiền mạnh bằng bà, và cũng chưa ai có hy vọng ngăn chặn được bà vào Toà Bạch Ốc. Ít nhất là cho đến nay.

Ai dám nói chính trị Mỹ không bị đồng tiền chi phối?
____

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Đối Phó Với Trung Quốc



Hùng Tâm - 150602
Hồ Sơ Người-Việt


Những chiêu pháp biến hóa và nỗi lo của Nhật Bản

* Bước ra là đạp vào nhà người khác * 



Chúng ta bình luận thế nào về việc Bắc Kinh đơn phương bành trướng ra Đông Hải và tranh chấp với các lân bang Đông Bắc Á và Đông Nam Á và gây nguy cơ đối đầu với Hoa Kỳ?

Trung Quốc đã mất hai chục năm xây dựng lực lượng Hải quân, là từ đầu thập niên 1990 khi mà lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa một Đô đốc lại cầm đầu quân đội. Nhân vật đó là Đô đốc Lưu Hoa Thanh (1916-2011) được Đặng Tiểu Bình đưa lên vị trí cao nhất trong đảng, là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội bên Chủ tịch/Tổng bí thư Giang Trạch Dân từ năm 1989 đến 1997. Họ Lưu đã hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc cho một viễn ảnh trường kỳ là 1) kiểm soát được các quần đảo trong vùng biển cận duyên vào thời điểm 2000-2010, rồi 2) mở rộng khả năng kiểm soát viễn duyên để ra tới đại dương vào khoảng 2010-2020. 

Thời điểm ấy đã tới. 

Nếu cũng nhìn sự thể trong viễn ảnh trường kỳ, người ta không nên ngạc nhiên, hoặc giận dữ, vì những gì Bắc Kinh đã làm, rồi nói, hoặc chối, mà vẫn thực hiện. Bạch thư về Quốc phòng do Bắc Kinh công bố tuần vào ngày 26 Tháng Năm, chỉ xác nhận chuyện đó. Người ta nên tranh luận về cơ sở pháp lý của việc Bắc Kinh đơn phương chiếm đoạt quần đảo Trường Sa và xây dựng khả năng bành trướng ra hải dương. Điều ấy không thừa về ngoại giao chính trị, nhưng vẫn chưa đủ. Người ta nên nhìn xa hơn và nghĩ đến khả năng đối phó của các nước ở gần tầm đạn của Bắc Kinh. 

“Hồ Sơ Người-Việt” sẽ tìm hiểu về khả năng đó…


Thế Trận Đông Hải


Chúng ta nên nghĩ đến hình tượng bát trận đồ, với những kết hợp và biến hóa linh động.

Thứ nhất, trận đấu trí có nhiều đối tác chứ không chỉ có hai nước như Hoa Kỳ và Trung Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản hay Việt Nam với Trung Quốc. Chiến lược bành trướng của Bắc Kinh liên quan tới Nam Hàn, Hoa Kỳ, Đài Loan, Bắc Hàn, Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á, lẫn Ấn Độ và Úc Đại Lợi, tức là có ít ra 18 nước lớn nhỏ và gần xa. Thứ hai, trong tập thể 18 quốc gia đó, hãy tưởng tượng đến sự tính toán song phương, giữa từng cặp, ví dụ như Hoa Kỳ với Trung Quốc, Nhật Bản với Nam Hàn hay Philippines với Hoa Kỳ căn cứ trên những quan hệ song phương của họ. 

Bước thứ ba mới là nghĩ đến thế liên kết đa phương để từng nước tranh thủ hay thuyết phục nhau, ví dụ như giữa bốn nước dân chủ theo kinh tế thị trường và có hiệp ước phòng thủ hỗ tương là Mỹ, Nhật, Hàn, và Đài Loan. Từ đó thì từng nước hay từng nhóm đối tác có nhiều chiến lược trong tinh thần biến hoá là liên kết hay đối lập với nhau, kể cả chiến lược hăm dọa có thể sử dụng, thí dụ như những thiệt hại khả dĩ xảy ra nếu không đạt nổi đồng thuận.

Bước thứ năm, sau khi tính ra những chiến lược khác nhau mà từng nước có thể áp dụng khi đấu trí hay đàm phán thì ta vẫn trở lại chuyện thế và lực, là từng nước phải nghĩ đến phương tiện kinh tế hay quân sự có thể huy động từ bên trong hoặc vận dụng từ các nước liên kết khác ở vòng ngoài. 

Bước thứ sáu là trong lối tính toán về huy động và vận dụng ấy, phải nghĩ đến quyền lợi có thể chia cho nước khác căn cứ trên sự đóng góp của họ. Không ai muốn nói chuyện hợp tác hay yểm trợ với một quốc gia chỉ muốn ăn người và đòi được bảo vệ miễn phí. Thứ bảy và quan trọng nhất trên một trận thế có nhiều giải pháp và chiến lược khả dụng, thì từng nước phải châm thêm yếu tố rủi ro hoặc khả năng chịu đựng hiểm nguy trong cách tính toán về quyền lợi của mình. Nếu chỉ nghĩ đến giải pháp ta cho là có lợi nhất mà không lý đến rủi ro hay thiệt hại thì mình bị nhược điểm duy ý chí trong cuộc đấu trí.


Nước Cờ Bắc Kinh 


Quốc tế không có quy định gì rõ rệt về quyền thiết lập hay quản trị vùng phòng không của các nước. Công ước Quốc tế về Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) có những chuẩn mực rõ ràng hơn, nhưng cơ chế quốc tế ấy lại không có khả năng cưỡng hành. Đấy là cơ hội Trung Quốc đang khai thác, để lấy sức mạnh làm lý lẽ bất chấp các quy định của quốc tế.

Thí dụ như Bắc Kinh sẽ lập ra vùng Nhận diện Phòng không (là ADIZ Air Defense Identification Zone) để từ các căn cứ vừa xây dựng trên quần đảo Trường Sa của các nước Đông Nam Á sẽ theo dõi phi cơ dân sự bay vào “không phận” của họ ở ngoài biển hầu “bảo vệ quyền lợi và an ninh lãnh thổ”. Mọi phi cơ dân sự bay vào vùng ADIZ phải xác nhận căn cước và đối thoại với cơ quan phòng không của nước "chủ nhà". Nghĩa là các nước phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo mà họ vửa cưỡng chiếm.

Về thực tế kỹ thuât, khu vực này phải rộng hơn không phận để bộ máy phòng không của Bắc Kinh kịp thời ứng phó với mối đe dọa khả dĩ xảy ra. Gặp trường hợp khả nghi, Không quân mới đưa chiến đấu cơ lên trực tiếp nhận diện máy bay lạ và kịp đối phó theo phép hỏi han, dụng lễ rồi mới dụng binh, nếu có phi cơ đòi tự sát.

Đấy là hoàn cảnh của Trung Quốc.

Đối diện thì ngoài Hoa Kỳ, gần hai chục nước kể cả Việt Nam, cũng có vùng bảo vệ như vậy.

Là một quốc gia quần đảo, Nhật có vùng ADIZ từ lằn ranh do Hoa Kỳ vạch ra sau Thế chiến II, nhằm bảo vệ không phận từ hướng Tây. Vùng ADIZ do Nhật thiết lập năm 1969 trùng với vùng đặc quyền kinh tế EEZ, nhưng Tháng Sáu năm  2013, Nhật mở vùng ADIZ thêm 22 cây số về hướng Tây, và khi ấy, Đài Loan có than phiền là "đáng tiếc". Nhưng rồi thôi vì Đài Loan không sợ Nhật đòi tiền mãi lộ khi thương thuyền của mình đi qua vùng ADIZ của Nhật!

Chi tiết đáng chú ý ở đây là lằn ranh xa nhất của Nhật chỉ cách lãnh thổ Trung Quốc có 130 cây số. Cho nên, Bắc Kinh không phát minh ra trò này và nay mới chỉ hăm dọa.

Tại vùng Đông Bắc Á, vùng ADIZ của Trung Quốc đi tới mức xa nhất về hướng Đông, và trùm lên đảo Jeju của Nam Hàn, vùng ADIZ của Đài Loan và nhất là vùng ADIZ mới của Nhật. Việc Bắc Kinh vẽ ra lằn ranh phòng vệ lên vùng phòng không của các lân bang mới bị cho là gây bất ổn vì làm thay đổi hiện trạng. Bây giờ, nếu họ tiếp tục như vậy trên vùng Đông Nam Á thì sao?



Những Thách Thức Cho Bắc Kinh


Ta thấy vấn đề không chỉ là trận đấu trí giữa Bắc Kinh và Tokyo trên không phận của cụm đảo Senkaku của Nhật mà Trung Quốc nhận là Điếu Ngư của mình. Vấn đề cũng không là cuộc đấu trí hay hăm dọa của Bắc Kinh với từng nước Đông Nam Á trong tương lai trước mặt.

Trên bậc thềm không gian trước khi bay vào lãnh thổ, Bắc Kinh giao hẹn với thiên hạ rằng từ nay các máy bay ra vào thì phải xin phép cơ quan hữu trách của Trung Quốc. Nếu không, máy bay vi phạm sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Từ vài năm qua, các hãng hàng không dân sự đều cân nhắc rủi ro và lấy quyết định an toàn cho khách hàng, theo kiểu tránh voi chẳng xấu mặt nào. Sau khi ngần ấy nước than phiền thì mọi hãng máy bay đành tuân thủ đòi hỏi của Bắc Kinh để tránh họa. 

Cái yếu tố rủi ro trong trận thế của Trung Quốc khiến Bắc Kinh coi như đã thắng một keo!

Nhưng nếu mối nguy không đến từ phi cơ dân sự mà đến từ một quốc gia thì Bắc Kinh tính sao?

Đấy là một thách đố mà chúng ta chẳng nên quên vì tính gì thì tính sau khi vạch ra luật chơi mới  Bắc Kinh phải có khả năng động thủ nếu quả thật là bị đối thủ thách thức. Khả năng đó gồm có hai mặt. Một là phải theo dõi được mọi chuyện trên không phận trùng lập với lằn ranh phòng thủ của xứ khác. Thứ hai là phải thi hành được lời răn đe.

Khả năng theo dõi đó đòi hỏi sự phối hợp giữa lục quân, hải quân với không quân và "Đệ nhị Pháo binh" (hệ thống hỏa tiễn). Bắc Kinh chưa có khả năng phối hợp này nếu so với đối thủ gần là Nhật Bản và đối thủ xa là Hoa Kỳ. Bạch thư Quốc phòng của họ mới chỉ nói đến những ý hướng sẽ thực hiện mà thôi.

Nước Nhật là một quần đảo có nhiều cơ sở quân sự nằm sát Hoa lục, với trình độ kỹ thuật cao gấp bội. Hệ thống bảo vệ trên đất liền của Trung Quốc lại ở quá xa "hiện trường" là lằn ranh ADIZ nằm mãi ngoài khơi Đông Hải của họ. Nếu muốn xuống tới vùng biển Đông Nam Á, Bắc Kinh còn phải đi xa hơn, từ các căn cứ trên đất liền tới các đảo nhân tạo mà họ vừa thực hiện.

Thứ nữa, khi hữu sự thì Bắc Kinh phải có khả năng ra đòn và đỡ đòn khi bị phản đòn. Cụ thể là muốn thật sự bảo vệ không phận thì còn phải xác định đối tượng, chứ không thể bắn hạ hay hăm dọa bắn hạ mọi vật lạ mà mình chưa biết là gì và bắn hạ bằng võ khí nào là thích hợp. Thách đố ấy đòi hỏi loại chiến đấu cơ có thể ngăn chặn và tiêu diệt đối thủ theo đúng lời hăm, và các chiến đấu cơ phải có căn cứ ở gần hiện trường.

Vì đã nhoài mình quá xa ra ngoài, Bắc Kinh cũng chưa có khả năng đó.

Cho nên, Bắc Kinh mới chỉ dọa già trong khi ráo riết thi đua để tiến tới trình độ "lực tòng tâm". Ngoài nhu cầu tháu cáy dọa già, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn cho thần dân hỷ hả khi thấy đảng đơn phương vẽ lằn ranh lên trời mà người đời đều sợ. Nhưng kết luận như vậy thì vẫn chưa là phép đấu trí thật trên trận đồ bát quái!



Nhật Bản Bất An


Trong trận thế do Bắc Kinh vừa mới vạch ra, Hoa Kỳ là quốc gia đã có những phát biểu mạnh nhất mà thật ra, Mỹ chưa bị trực tiếp đe dọa và không muốn động thủ. Bắc Kinh cũng không chơi dại, mới chỉ muốn làm chủ vùng biển cận duyên và trông cậy vào sự nhu nhược của Hoa Kỳ dưới triều đại Barack Obama. Nhật Bản mới là cường quốc nằm trong tầm nhắm của Trung Quốc.

Từng là đại cường hải dương khi Trung Quốc còn lạc hậu vào thế kỷ 19, Nhật đã bị Mỹ khuất phục và giải giới bằng hai quả bom nguyên tử vào năm 1945. Từ cục diện đó, trong 70 năm qua, Nhật chỉ có thế thủ chứ không được phép công.

Ngày nay, trước sự xuất hiện và hăm dọa của Trung Quốc, Nhật mới thấy số phận bất an. Trên đầu thì đến Bắc Hàn nhỏ nhít còn có thể thao dượt hỏa tiễn. Dưới nước thì Bắc Kinh vẽ ra lằn ranh mới. Tại vùng Đông Bắc Á, lằn ranh đó đe dọa an ninh của Nhật, tại vùng Đông Nam Á, lằn ranh đó sẽ đe dọa kinh tế Nhật vì bao trùm lên khu vực vận chuyển phân nửa hàng hóa toàn cầu.

Trên lãnh thổ bát ngát của mình, khi lụn bại và gặp rủi ro, lãnh đạo Trung Quốc còn có đất lùi là khu vực nội địa. Nhật Bản chỉ còn nước lùi ra biển.

Vì vậy, trong khi Mỹ ăn nói nước đôi với nhiều bửu bối yểm sẵn ngoài khơi, và Tầu tưởng bở mà lấn đất giành hơi, Nhật nghĩ tới kịch bản tệ nhất của trận đấu trí. Không ồn ào như anh Sơn Đông mãi võ ngoài chợ đời, Nhật tự chuẩn bị cho trận đấu lực.

_______________________

Kết luận ở đây là gì?

Trên cuộc cờ rắc ngoài Đông Hải, giữa cái uy giả của một Trung Quốc hung hăng mà mặc cảm và nỗi lo thật của Nhật Bản, yếu tố nào mới thật sự đáng sợ?

Khi có chuyện, các lân bang và thế giới sẽ phản ứng thế nào? Bênh vực Trung Quốc? Còn lâu!

Và nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại muốn tự sát trong trò hăm dọa này, ai sẽ là người can ngăn?